Bí ẩn nghệ thuật tượng sơn thếp

Ngày 24/04/2017 2,865 lượt xem

Phần lớn các pho tượng cổ được thếp lớp vàng khá dày, đôi khi là ba bốn lớp, mỗi lớp dày từ 1-2 mm. Lượng vàng qua nhiều lần sơn thếp của ba bốn trăm năm, mỗi pho tượng có lẽ đến vài kg.

1. Từ thế kỷ 16 trở đi, ít có đền chùa nào không sử dụng tượng đất và gỗ sơn son thếp vàng. Việc sơn thếp tượng cho phép người ta chuyển hẳn lối làm tượng hoàn chỉnh từ một chất liệu, như tượng đá, sang lối làm tượng lắp ghép nhiều phần, đục đẽo thô, đắp sửa bằng đất, rồi sơn thếp ra ngoài.

Quá trình sơn thếp không khác lắm so với những họa sỹ Trường Mỹ thuật Đông Dương làm tranh sơn mài bằng sơn ta truyền thống. Kỹ thuật mài thực ra cũng được sử dụng trong quá trình làm tượng.

Thoạt tiên đẽo từng phần pho tượng gỗ, có thể phân chia các khối đầu, thân, chân và tay (trong tượng ngồi) rồi lắp ráp có mộng vào với nhau. Đây mới là những khối hình học cơ bản, chưa có đường nét chi tiết, sau đó hom bó bằng đất phù sa, mùn cưa trộn với sơn ta thành một cái cốt tượng, như là tấm vóc làm tranh sơn mài.

Tượng Quan âm Nam Hải, thế kỷ 16, chùa Bối Khê (Hà Nội), gỗ phủ sơn

Đến quá trình này người ta bắt đầu làm các chi tiết mặt mũi, áo quần, hoa văn bằng đất trộn sơn, như một pho tượng hoàn chỉnh, chưa sơn thếp, rồi sau đó tiến hành sơn cánh gián cầm, dán vàng bạc cẩn thận “đông đặc” sau đó (nhộm phẩm mầu một số chi tiết, trên áo quần hoa văn…), mài nhẵn, rồi quang ra ngoài một lớp sơn bóng (được pha trộn giữa sơn ta và dầu chẩu).

Những tượng này khi làm xong cũng chưa đẹp ngay, do lớp sơn cánh gián nâu còn dầy, bề mặt tượng chưa trong, nhưng dần dầnqua tháng năm càng ngày nước sơn càng thắm đượm, độ bóng  căng và trầm sâu nhấn mạnh tính trầm tư mặc tưởng của một pho tượng Phật linh thiêng. Lớp vàng bạc lót phía dưới lớp sơn cánh gián làm cho mầu sắc bên trên thêm sáng nhưng trầm.

Nghệ thuật này được gọi là tô tượng, xưa kia điêu khắc gọi là “điêu tô”: “Điêu” là khắc xuống, đục đi, “tô” là đắp lên vẽ lên. “Tô” vẽ là khâu quan trong bậc nhất, pho tượng có đẹp hay không là nhờ khâu này, nên thường do các nghệ nhân cao tay thực hiện.

2. Khi khảo sát các pho tượng gỗ phủ sơn thế kỷ 16, chúng tôi thấy quá trình hom bó không quá được chú trọng, người ta đã đục đẽo pho tượng tương đối hoàn chỉnh, lớp sơn phủ bên ngoài không có tính tô vẽ như các tượng gỗ phối hợp với đất phủ sơn từ thế kỷ 17 trở đi.

Người ta không cạo lớp sơn cũ, mà cứ chồng lên lớp sơn mới với lượt thếp vàng mới; càng sơn thếp nhiều lớp tượng càng có vẻ đẹp mỹ mãn, và trầm sâu khó tả

Những pho tượng thế kỷ 16, thường được sơn thếp trực tiếp với lớp lót trong cùng đơn giản, ví dụ như pho tượng Quan âm Nam Hải, chùa Hạ, Vĩnh Phú, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Những tượng chân dung quý tộc thế kỷ 17, trong nhiều đền chùa cũng được tạc khối gần như hoàn chỉnh, và sơn thếp có tính trực tiếp như vậy với rất nhiều mầu sắc sao cho giống y phục, trang sức người thật mang hàng ngày. Các chi tiết hoa văn, tràng hạt đều được đục chạm nổi trên bề mặt, chứ không phải đắp sửa bằng đất, tiêu biểu là chân dung các bà hoàng vợ vua Lê Thần Tông chùa Mật, sau này ảnh hưởng đến lối làm chân dung quý tộc chùa Bút Tháp.Đất và gỗ phủ sơn từ thế kỷ 17 là chất liệu được sử dụng phổ biến, cốt bằng gỗ, chi tiết bề mặt sửa bằng đất. Vàng và son là chất liệu chính trong quá trình tô tượng Phật. Phần lớn các pho tượng cổ được thếp lớp vàng khá dày, đôi khi là ba bốn lớp, mỗi lớp dày từ 1-2mm. Thành thử có nhiều pho tượng lớp sơn dày tới nửa phân.

Lượng vàng qua nhiều lần sơn thếp của ba bốn trăm năm, mỗi pho tượng có lẽ đến vài kg. Thực ra đây là kết quả của nhiều lần tô tượng, người ta không cạo lớp sơn cũ, mà cứ chồng lên lớp sơn mới với lượt thếp vàng mới, càng sơn thếp nhiều lớp tượng càng có vẻ đẹp mỹ mãn, và trầm sâu khó tả. Sau một thời gian dài nhiều lớp sơn bay dần, tùy từng tháng năm lộ ra lúc thì là lớp vàng son rực rỡ, lúc là lớp cánh dán nâu trong sâu, lúc lại lộ những lớp sơn then lót đen bóng trong vô cùng, khiến cho người ta không biết thực chất pho tượng đã được sơn thếp như thế nào.

3. Việt Nam không thiếu gỗ và đất có thể làm được điêu khắc, tuy nhiên tùy từng nơi và tùy từng loại tượng mà người ta làm tượng đất hoàn toàn, hay làm tượng đất và gỗ phối hợp (cốt gỗ, bọc đất phủ sơn).

Nhiều Phật động với hàng trăm tượng nhỏ làm hoàn toàn bằng đất, nhiều tượng cỡ lớn như tượng Kim cương, Hộ pháp thích hợp với chất liệu đất hơn là gỗ.

Với tượng nhỏ người ta có thể đắp đất đặc, nhưng với tượng lớn thì chỉ đắp đất ở vỏ tượng còn bên trong hoàn toàn rỗng. Để làm như vậy, thoạt tiên phải đan một cái cốt tượng bằng tre, nhồi rơm vào đó, đắp đất sét trộn sơn, mật và vôi, rơm băm nhỏ, hoặc trộn giấy bản vào vôi đất, đắp ra ngoài cốt tre lấy hình thù ban đầu. Vỏ tượng khô đi co lại bóp chặt vào cốt tre cho đến khi không co lại nữa, người ta mới rút rơm ra khỏi lõi tượng và đắp sửa bên ngoài cho ra hình thù. Quy trình còn lại thì giống như sơn thếp cho một pho tượng gỗ thôi.

Tượng Kim Cương chùa Mía, thế kỷ 18, đất và gỗ phủ sơn.

Nhiều tượng cần râu tóc, mắt thì người ta làm rời bằng tóc người và con mắt thủy tinh mua từ bên Trung Quốc, gọi là nhỡn Tàu. Con ngươi của mắt có thể đung đưa nên người ta đục hai lỗ nhỏ thông nhau gần mắt, chỉ cần chút gió lay là con ngươi hơi chuyển động, nom như mắt người thật.

Tượng bát bộ Kim cương chùa Mía, hộ pháp chùa Thầy (Hà Nội) đều là điển hình của nghệ thuật tượng đất đắp thế kỷ 18, 19. Tượng đất hút sơn ta tương đối nhiều nên cần làm nền bề mặt tượng thật kỹ và sơn những lớp sơn dày chống thấm, tuy nhiên so với tượng gỗ phủ sơn, nó chóng phai màu và tróc màu nhanh hơn. Khuôn mặt của các tượng đất Kim cương và Hộ pháp, người ta thường dùng bột ngà voi để tạo độ trắng và ấm, kỹ thuật này khá tốn kém, nên không phải nơi nào cũng thực hiện được.

2. Để làm một pho tượng có kích thước tương đương với người thật, giá thành thời phong kiến, tương đương với 40 thúng thóc. Sự sơn thếp khá đắt đỏ, nên cần có đóng góp tài trợ của nhiều thí chủ.

Khi tô tượng và đúc chuông cần một lượng vàng lớn, nên số lượng vàng thường không được tính vào giá thành mà là phần riêng cho thí chủ tài trợ. Người ta trực tiếp tháo nhẫn thả vào nồi đồng đang nấu, hay mua nhiều quỳ vàng đưa cho thợ thếp lên tượng trước mặt mình. Những lá vàng dát tượng ngày xưa không quá mỏng và tiết kiệm như vàng quỳ ngày nay, nên thực chất lượng vàng thếp trên tượng cổ khá lớn.

“Khai quang yểm nhỡn” và “yểm tâm” tượng là nghi lễ quan trọng để pho tượng trở thành thần thờ cúng, được làm trong lễ “hô thần nhập tượng”. Ngày “khai quang” phải là ngày lành tháng tốt, con mắt mới được vẽ và mắt thủy tinh mới được lắp, sau đó các lỗ yểm tâm được đặt các hạt quý vào, bao gồm một hạt thóc, một hạt vừng, một hạt đỗ, một hạt vàng, một hạt bạc, một hạt kim cương, một hạt mã não, một hạt hổ phách… gói trong một túi lụa vàng. Tuy nhiên, cũng tùy theo kinh tế mà “yểm tâm”, không nhất thiết đầy đủ như trên, chủ yếu là ngũ cốc và hạt quý. Lỗ yểm tâm đặt sau lưng tượng có thể là giữa lưng, có thể là giữa lòng, tùy theo, sau khi hô thần nhập tượng, pho tượng mới chính thức được coi là thần thiêng để thờ cúng.

Khi sửa chữa, di chuyển, thường có lễ đưa gói yểm tâm ra và nhập vào sau khi yên vị mới. Ở Nhật Bản, mỗi pho tượng còn có ngọc tượng, dưới hình thức thờ rời, khi dịch chuyển tượng đi đâu đó người ta phải làm lễ rước ngọc tượng đi đầu. Đôi khi người ta còn thiết kế bài vị, văn cúng cho tượng, trong đó kê khai chức vụ, lý lịch của thần tượng trong ngôi đền, chùa nào đó.

Dựng chùa đặt tượng cũng luôn được kể lại trong văn bia. Mỗi pho tượng thờ luôn gắn với một sự tích, một truyền thuyết và một vị trí nhất định trong kiến trúc tôn giáo, đó là linh hồn của ngôi chùa ngôi đến – vị thần sẽ kết nối thế giới tâm linh với con người, đưa con người đến cõi cực lạc, cũng như thường nhật là đấng cứu nhân độ thế.

Phan Cẩm Thượng