Đạo Phật và dòng sử Việt: Đạo Phật đời nhà Trần (1225-1400)

Ngày 07/07/2017 1,317 lượt xem

Sự nghiệp to lớn của nhà Lý đối với Đạo Phật đã ảnh hưởng đến nhà Trần. Trần Thái Tông cũng như các vua kế tiếp đều là những Phật tử và hiểu giáo lý một cách quán triệt. Ở giai đoạn này, Phật giáo đời Trần được coi như lên đến tột đỉnh vinh quang. Kể từ năm 1225 – 1329, các vị vua nhà Trần:

* Thái Tông  (1225 – 1258)

* Thánh Tông (1258 – 1278)

* Nhân Tông (1279 – 1293)

* Anh Tông (1293 – 1314)

* Minh Tông (1314 –1329)

Đều là những vị vua thông minh, có tài đức siêu việt.

Trong khoảng thời gian 104 năm trị vì, qua năm đời vua, các vua đều hết lòng hoằng dương chính pháp, nên đạo Phật Việt thuở ấy rất long thịnh. Các tôn giáo và mọi ngành văn nghiệp, võ công1đều được phát triển tốt đẹp. Có thể nói đây là thời đại vàng son sáng rỡ nhất của lịch sử nước ta.

Bây giờ ta hãy lần giở lại trang lịch sử oai hùng của dân tộc mà Đạo Phật Việt tự hào đã có công lớn đóng góp cho nền độc lập thịnh vượng của quốc gia Đại Việt.

Nhà Trần kế thừa sự nghiệp lớn lao của nhà Lý –trải 215 năm xây dựng một nước Đại Việt hùng mạnh – đến đời cuối cùng nhà Lý là Chiêu Hoàng thì nhường ngôi lại cho chồng là Trần Cảnh, tức Trần Thái Tông, lên ngôi vua mới có tám tuổi, nên mọi việc trong nước đều do Thái sư Trần Thủ Độ quán xuyến cả.

Bài chiếu nhường ngôi, theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, ban hành ngày 21 tháng 11 năm 1225:

“Từ xưa nước Đại Việt đã có các bậc đế vương trị vì thiên hạ. Riêng nhà Lý ta vâng chịu mệnh trời, làm chủ bốn biển, các vị thánh vương truyền nối đã hơn hai trăm năm. Chẳng may đức Thượng Hoàng mắc bệnh, không có người nối dõi, thế nước nguy khốn, đành sai trẫm nhận minh chiếu, gượng lên ngôi vua. Thật là từ xưa đến nay chưa có việc như thế bao giờ!

Than ôi, trẫm là nữ chúa, tài đức đều kém, lại thiếu người giúp đỡ, mà giặc cướp thì nổi lên như ong, làm sao có thể giữ gìn ngôi vị quá nặng đó được?

Trẫm những thức khuya dậy sớm, chỉ sợ gánh vác không nổi; lòng thường cầu mong có bậc hiền nhân quân tử, cùng giúp chính sự. Ngày đêm trẫm vẫn canh cánh nghĩ về việc đó.

“Người quân tử đẹp đôi

Lòng rạo rực buồn vui

Thức ngủ bao tơ tưởng

Tình man mác xa xôi”…

Nay trẫm một mình suy nghĩ đi nghĩ lại, duy có Trần Cảnh là người văn chất rõ ràng, phong thái đúng là bậc hiền nhân quân tử, uy nghi trầm mặc, lại có tư chất của đấng văn võ thánh thần, dù Hán Cao Tổ, Đường Thái Tông cũng không hơn được. Trẫm đã sớm suy nghĩ, nghiệm xét từ lâu: nên nhường lại ngôi lớn để yên lòng trời, để thỏa ý trẫm, có vậy mới mong ai nấy đồng lòng gắng sức, phù trì vận nước lâu dài, để cùng chung hưởng hạnh phúc thái bình. Nay bá cáo cho thiên hạ cùng nghe biết.[91]

Sách Đại Nam Thực lực Chính Biên chép: “Năm Kiến Trung thứ VII (1231) vua Thái Tông sắc cho nhân dân vẽ hình Phật ở khắp nơi công quán và các nơi công chúng hội họp.” Sách lại chép thêm:”Vua Thái Tông lúc nhỏ đi xem đám rước thần, có gặp một vị tăng nói sau ngài sẽ làm vua, rồi vị ấy biến mất, nên vua có lời sắc ấy”[92]

Niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình thứ VI, ngày 3 tháng 4 năm Bính Thân (1236), đương đêm vua bỏ lại ngai vàng, mặc quần áo thường dân, lẻn lấy con ngựa dắt ra khỏi thành và bảo với tả hữu rằng: “Ta muốn đi để nghe dư luận dân gian mà biết được sự mong cầu của họ để dễ bề trị nước”. Vua liền lên ngựa đi đến bến đò dưới núi Phả Lại, thuộc làng Đại Than, thì trời đất bắt đầu hừng sáng. Sợ có kẻ biết, vua phải lấy vạt áo che mặt mà qua đò, rồi ven theo đường tắt lên núi. Đêm đến, vua vào nghĩ trong chùa Giác Hạnh, đợi cho đến sáng lại đi. Chật vật trèo non lội suối, con ngựa đã nhọc không thể lên núi được nữa, vua phải bỏ ngựa vịn vào tảng đá mà đi, mãi chiều mới đến được núi Yên Tử. Sáng mai, vua lên thẳng đỉnh núi vào ra mắt quốc sư Trúc Lâm, xin ở lại tu hành.[93]

Trần Thủ Độ biết được vua có ý từ bỏ ngai vàng, quyết chí đi tu, liền dẫn các quan lên núi Yên Tử đón vua về kinh.

Vua nói: “Trẫm còn ít tuổi, chưa thể cáng đáng nổi việc to lớn trong thiên hạ, thì phụ lòng phụ hoàng đã xa lánh cõi đời, sớm mất chỗ cậy trông, trẫm không dám ở ngôi vua mà làm nhục xã tắc”. Thủ Độ nài nỉ hai ba lần mà vua vẫn không nghe. Ông liền bảo mọi người: “Vua ở đâu thì triều đình ở đó”. Quốc sư thấy thế mới tâu vua: “Xin bệ hạ hãy về gấp kinh sớm, chớ để làm hại tới núi rừng của lão tăng”.

Trần Thủ Độ hiểu vua là người nhân từ hiếu hạnh, liền đem câu chuyện Thái Tổ ủy thác cho ông mà khuynh động tâm lý nhà vua: “Tôi chịu lời ủy thác của đức Tiên quân, vâng lệnh bệ hạ làm chủ thần dân. Nhân dân nay mong nhớ bệ hạ như con đỏ mến yêu cha mẹ vậy. Huống chi ngày nay, các vị cố lão trong triều đều là họ hàng thân thích, sĩ thứ trong nước ai cũng vui vẻ phục tòng, cho đến đứa trẻ lên bảy cũng biết bệ hạ là cha mẹ dân. Vả lại, Thái Tổ vừa mới bỏ tôi mà đi, hòn đất trên nấm mộ chưa khô, lời dặn bên tai còn văng vẳng, mà bệ hạ đã lánh vào chốn núi rừng ẩn cư để cầu thỏa lấy ý riêng của mình, tôi dám nói rằng bệ hạ vì sự tự tu như vậy thì được; suông cho đời sau thì sao bằng lấy ngay thân mình làm người dẫn đạo cho thiên hạ? Bệ hạ nếu không nghĩ lại, quần thần chúng tôi cùng thiên hạ sẽ xin cùng chết, cả trong ngày hôm nay, quyết không trở về”.

-Trẫm nghe thái sư và quần thần cố lão không có ý bỏ trẫm, cho nên đem lời thái sư bạch với quốc sư, quốc sư cầm tay trẫm và nói: “Phàm là đấng nhân chủ, thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm tâm của mình. nay thiên hạ muốn đón bệ hạ về cung, bệ hạ không về sao được? Tuy nhiên, sự nghiên cứu nội điển (kinh Phật) xin bệ hạ đừng phút nào quên”.

“Do lời khuyên chí tình ấy, trẫm và mọi người trong triều liền trở về kinh, gượng lên ngôi báu. Ròng rã hơn mười năm trời, mỗi khi rảnh rỗi, trẫm hội họp các bậc kỳ túc để tham vấn về đạo Thiền, và hầu hết kinh điển Đại Thừa, không cuốn nào mà không nghiên cứu” (tựa Thiền Tông Chỉ Nam).

Lời nói của quốc sư Trúc Lâm đã in sâu vào tâm thức vua: “Phàm làm đấng nhân chủ, thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình = phàm vi nhân quân giả, dĩ thiên hạ chi dục vi dục, dĩ thiên hạ chi tâm vi tâm”.

Lời nói ấy đã như một phán quyết của định nghiệp mà vua phải đi trọn cuộc đời, không thể nào cưỡng lại được. Nên ngay sau khi lên ngôi vua, Trần Thái Tông đã phải lo việc đối phó với cảnh loạn lạc trong nước, vì cuối đời Lý giặc giã nổi lên khắp nơi, ở mạn Quốc Oai, có giặc Mường quấy phá; ở Hồng Châu có Đoàn Thượng, vốn là cận thần của Lý Huệ Tông, chiếm giữ huyện Đường Hào; ở Bắc Giang, có Nguyễn Nộn cũng xưng vương, nhưng chỉ trong ba năm (1225 – 1228) nhà Trần đã dẹp yên quân nổi loạn.

Mấy năm đầu, chính thể nhà Trần còn theo pháp chế đời Lý, nhưng đến năm 1242, vua cho cải cách lại hệ thống cai trị: đổi 24 lộ (đời Lý) thành 12 lộ. Dưới lộ, phủ có châu, huyện có xã. Mỗi lộ có một quan cai trị gọi là an phủ sứ. Dưới an phủ sứ là các quan tri phủ, trấn phủ… Ở cấp xã thì có xã quan: đại tư xã và tiểu tư xã… Về tổ chức quân đội của nhà Trần cũng rất chu đáo. Nhân dân được tuyển đi lính, theo chế độ “ngụ binh ư nông”, phòng khi có giặc ngoại xâm thì mỗi người dân là một người lính. Các thân vương cũng được phép mộ lính. Do đó mà sau khi quân Mông Cổ sang đánh, triều đình đã có 20 vạn quân để chống quân địch. Vua cũng rất quan tâm đến đời sống của toàn dân, vì nước ta vốn có truyền thống văn hóa nông nghiệp thảo mộc, mà đại đa số người dân rất có sở trường về trồng trọt chăn nuôi, nên năm 1244, vua cho đắp đê Đỉnh Nhi ở hai bên bờ sông Hồng để ngăn nước lớn; hằng năm đến mùa nghỉ làm ruộng thì đắp đê và đào ngòi để đề phòng nước lụt và đại hạn. Năm 1230, dựa theo bộ Hình Luật đời Lý để nghiên cứu, biên soạn. Hình luật qui định giết người là phải đền mạng. Đó là luật nhân quả rất công bằng, hợp lý. Năm 1252, chính vua đích thân đi đánh Chiêm Thành, vì đã từ lâu Chiêm Thành vẫn phải theo lệ triều cống, nhưng lại hay xua quân sang cướp phá miền duyên hải nước ta và cứ đòi lại đất cũ.[94]

Từ khi bình phục được nước Chiêm Thành rồi, các nước ở phía Nam cũng về triều cống vua nước Đại Việt.

Nhưng… ở phía bắc Trung Hoa, có giống dân Mông Cổ, họp thành các bộ lạc và sống liên minh với nhau trên vùng thảo nguyên Á Châu rộng lớn. Năm 1206, Témoudjine được đại hội quí tộc các dân bộ lạc tôn lên làm vua, tức Thành Cát Tư Hãn, lấy miếu hiệu là nguyên Thái Tổ. Danh từ Mông Cổ chính thức có từ đấy.

Mông Cổ vốn là giống dân du mục, hiếu chiến, Thành Cát Tư Hãn đã đưa quân ồ ạt tiến chiếm vùng Trung Á, rồi băng qua núi Capca vào chiếm nước Nga, đánh lấy nước Hung Ga Ri, Ba Lan, Tiệp Khắc… tiến vào bờ biển Nam Tư sát gần nước Ý. Đất Ba Tư bị xâm lược nhiều lần, cuối cùng phải sát nhập vào bản đồ đế quốc Mộng Cổ rộng lớn. Sau đó quân Mông Cổ lấy nước Tây Hạ, phía tây bắc nước Tàu, và diệt nước Kim, xâm lăng Triều Tiên (Cao Ly), đánh trung Hoa. Nhật Bản hai lần bị tiến công. Miến Điện cũng bị đánh tơi tả, sau cùng phải thần phục. Các nước Đông Nam Á xa xôi cũng bị uy hiếp nghiêm trọng. nước Đại Việt cũng chịu chung số phận và tưởng chừng chỉ trong khoảng khắc sẽ bị tiêu diệt bởi đoàn quân Mông Cổ bách chiến bách thắng, chúng đi đến đâu ngọn cỏ cũng không mọc lên được!

Nhưng vua và triều đình nhà Trần vẫn ngạo nghễ tự cường chống lại quân Mông Cổ hiếu chiến, khiến chúng phải cúi đầu chạy trốn về Tàu.

Quân Mông Cổ đã ba lần sang đánh nước ta, cả ba lần chúng đều thất bại nhục nhã.

Dưới đây xin tóm lượt 3 cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên của triều đình nhà Trần.

Lần Thứ Nhất:Khi Hốt Tất Liệt (koubilai) lên làm vua, đổi quốc hiệu là Nguyên. Năm 1278, Hốt Tất Liệt đem quân sang đánh nhà Tống; Tống thua. Toàn nước trung Hoa bị đặt dưới sự cai trị của người Mông Cổ. Năm 1257, Hốt Tất Liệt sai sứ sang dụ vua Trần Thái Tông đầu hàng. Vua nước Đại Việt không những không chịu hàng mà còn ra lệnh bắt giam sứ giả Mông Cổ vào ngục tối, rồi sai Trần Quốc Tuấn đem binh giữ ở phía Bắc.

Sự đe doạ và ý muốn thôn tính nước ta, của đế quốc Mông Cổ, ngày thêm lộ liễu. Và việc đến đã đến, ngày 17 tháng 1 năm 1258, tướng Mông Cổ là Ngột Lương Hợp Thai (Wouleangotai) đem ba vạn quân từ Vân Nam sang đánh nước Đại Việt. Quân Mông Cổ đi theo lưu vực sông Hồng tràn vào Bình Lệ Nguyên (Vĩnh Phú). “Cuộc giao chiến lớn đầu tiên xảy ra trên một dòng sông”. Trần Thái Tông đích thân chỉ huy trận đánh. Nhưng trước khí thế tiến công ồ ạt của địch, vua tạm cho quân rút lui, bị chúng đuổi theo, về đến Đông Bộ Đầu (phía sông Nhị, huyện Thượng Phúc, gần thành Thăng Long).

Triều đình quyết định rời khỏi kinh thành, lui quân về đóng giữ ở sông Thiên Mạc (huyện Đông Anh, tỉnh Hưng Yên). Quân Mông Cổ tiến vào thành Thăng Long bỏ trống, chúng chỉ tìm thấy những tên sứ giả của chúng bị trói giam ở trong ngục. Thăng Long bị đốt phá tan tành.

Để trấn an và động viên quân sĩ và nhân dân được vững lòng đánh giặc, cứu nước, thái sư Trần Thủ Độ tâu vua: “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo”. Và, chỉ sau ít ngày chuẩn bị, hàng ngũ quân cơ và lương thực được chu tất, ngày 29 tháng 1 năm 1258, quân ta từ Thiên Mạc ngược dòng sông Hồng tiến về đánh tan quân giặc ở Đông Bộ Đầu, đuổi chúng ra khỏi kinh thành Thăng Long. Trận đánh này quân địch bị tổn thất nặng. Chúng hoảng sợ, kéo tàn quân chạy về Vân Nam.

Cuộc kháng chiến chống Mông Cổ của nước Đại Việt thành công. Lễ ăn mừng chiến thắng nguyên Phong được mở ra vào ngày tết Nguyên Đán năm Mậu Ngọ (5-2-1258) để phong thưởng các tướng sĩ có công, và cũng là ngày toàn dân náo nức hân hoan đón chào cảnh Thái Bình thịnh trị của đất nước.

Cũng vào mùa xuân năm ấy (1258), vua nhường ngôi cho con là Trần Thánh Tông, để dạy con cách quản trị việc nước, và để giữ gìn triều chính được dài lâu; ngừa trước những sự tranh nhau khỏi xảy ra trong hoàng tộc.

Triều đình tôn vinh Thái Tông lên làm thái thượng hoàng, để cùng lo việc nước.

Thái Tông trị vì 33 năm, làm thái thượng hoàng 19 năm, trụ thế 60 năm[95]

Lần Thứ Hai –Sau khi đoàn quân Mông Cổ dẹp xong nhà Nam Tống, vào năm 1279, toàn cõi Trung Hoa đặt dưới quyền thống trị của Hốt Tất Liệt, tức Thế Tổ nhà nguyên. Hốt tất Liệt vốn có tham vọng mở mang đế quốc về phía Nam và Đông Nam Á, mục tiêu mà y nhắm tới là nước Đại Việt và các nước Champa, Myanmar, Indonésia… Nước Đại Việt không may gặp lúc thái thượng hoàng Trần Thái Tông mất ở Thiên Trường năm 1277; rồi năm sau, 1278, Thánh Tông lại nhường ngôi cho thái tử Khâm, tức vua Trần Nhân Tông, và về ở Thiên Trường làm thái thượng hoàng.

… Để kiếm cớ phát động cuộc chiến tranh xâm lăng nước Đại Việt; khi hay tin, vua nguyên sai lễ bộ thượng thư Sài Thung đi xứ sang nước ta, lúc tới Thăng Long, Thung kiêu ngạo cưỡi ngựa vào thẳng cửa Dương Minh; bị quân sĩ cản lại, hắn dùng roi đánh tên cảnh vệ, rồi cho người đưa thư “trách Nhân Tông sao không xin phép triều đình nhà Nguyên mà dám tự lập làm vua”[96]

“Thánh Tông trị vì 21 năm, làm thái thượng hoàng 13 năm. Trụ thế 51 năm”

Niên hiệu Thiệu Bảo thứ III (1281), vua Nhân Tông sai người chú họ là Trần Di Ái và Lê Tuân, Lê Mục đi sứ sang Trung Hoa điều đình với nhà Nguyên; ba vị này bị chúng giữ lại. Vua Nguyên quyết ý chiếm lấy nước Đại Việt, ra lệnh tập Tuyên phủ tu để giám sát các châu, huyện của ta. Quan nhà Nguyên sang đến nơi, vua Nhân Tông không nhận, đuổi về Tàu. Nhà Nguyên đổi chiến lược, dùng chính sách phủ dụ, mua chuộc và ép Trần Di Ái làm An Nam Quốc Vương, và ban chức tước cho bọn Lê Tuân, Lê Mục, tạo nên một lũ “vua quan bù nhìn”, rồi sai Sài Thung dẫn 1.000 quân đưa bọn chúng về nước, nhằm buộc triều đình ta phải đầu hàng… nhưng bọn chúng vừa về đến biên giới thì quân ta chặn đánh ở cửa ải Nam Quan, Sài Thung trúng tên bắn mù một mắt, trốn thoát chạy về Tàu, còn bọn nghịch thần bị bắt giải về kinh, phải tội đồ làm lính.

Cuộc âm mưu của nhà Nguyên đưa bọn Trần Di Ái về nước lập chính phủ bù nhìn, làm tay sai cho chúng, bị hoàn toàn thất bại.

Quan hệ bang giao Việt – Hoa bắt đầu căng thẳng. Cuộc chiến tranh xâm lăng nước Đại Việt của quân Nguyên lần này đã có dấu hiệu cho biết chỉ trong một sớm một chiều có thể sẽ xảy ra. Theo như kế hoạch chúng đã dự định – do thám báo của ta phát giác – thì, triều đình nhà Nguyên trù bị cho cuộc Nam chinh với một lực lượng hùng hậu đông hàng chục vạn quân. Cuối năm 1282, Hốt Tất Liệt sai Toa Đô dẫn một đạo quân từ Quảng Châu vượt biển đánh chiếm Chiêm Thành (phía Nam nước ta) rồi từ đó, hình thành một trận đồ, chờ khi đoàn quân từ phía Bắc tràn xuống (sẽ) phối hợp đánh vào nội địa nước ta.

Trước tình thế khẩn trương ấy, vua Nhân Tông triệu tập Hội Nghị Bình Than, gồm các vương hầu, văn võ bách quan, để bàn định kế hoạch kháng chiến. Rồi từ hội nghị này, và sự quyết tâm của triều đình được truyền đi khắp nơi. Cả nước, ai nấy đều hăng hái, chuẩn bị lương thực, khí giới, sẵn sàng đánh giặc, cứu nước.[97]

Cuối năm 1283, vua Nhân Tông phong cho Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn làm Quốc công tiết chế thống lĩnh toàn bộ quân đội kháng chiến chống Nguyên.

Tháng 8 năm 1284, đại quân nhà Nguyên do trấn nam vương Thoát Hoan – người con trai của Hốt Tất Liệt – giữ chức tổng chỉ huy toàn bộ quân đội từ Quảng Tây kéo tới xâm phạm lãnh thổ Đại Việt. Khi quân của Thoát Hoan tới Ải quan, chúng (giả vờ) nói là mượn đường qua nước ta sang đánh Chiêm Thành, rồi sai A Lý đưa thư yêu sách triều đình nhà Trần: “Bản súy chỉ nhờ đường Nam quốc sang đánh Chiêm Thành chứ không có bụng gì đâu mà ngại. Nên mở cửa ải cho quân bản súy đi, và đi đến đâu, nhờ giúp ít nhiều lương thảo, khi nào phá xong Chiêm Thành sẽ có trọng thưởng. Nếu kháng cự thiên binh, bản súy quyết không dung tình, phá tan bờ cõi, bấy giờ hối lại không kịp” (VNSL).

Vua và triều đình ta cương quyết chống lại yêu sách hỗn xược đó, và bảo A Lý biết: “Từ nước Đại Việt đến Chiêm Thành, đường thuỷ, đường bộ đều không tiện”.

Qua tháng 9 năm 1284, vua Nhân Tông đích thân chủ tọa cuộc duyệt binh lớn, gồm 20 vạn quân thủy và bộ tại bến Đông Bộ Đầu. Hưng Đaọ đại vương Trần Quốc Tuấn, nhân danh Tiết chế thống lĩnh quân đội, truyền hịch cho các tướng sĩ. Nguyên văn:

“Ta thường nghe: Kỷ Tín (2) đem thân chết thay, cứu thoát cho vua Cao Đế; Do Vu (3) chìa lưng đỡ ngọn giáo, che chở cho vua Chiêu Vương; Dự Nhượng[98]Thân Khoát[99]chặt tay mong cứu nạn cho nước; Kính Đức[100]một chức quan nhỏ mà liều mình cứu vua Thái Tông thoát khỏi vòng vây của Thế Sung; Cảo Khanh[101]là bề tôi xa, dám mắng Lộc Sơn, quyết không mắc mưu kẻ nghịch tặc. Ngày xưa, các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào mà chẳng có? Giả thử các bậc đó cứ khư khư giữ thói “nhi nữ thường tình”, đến phải chết già ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách, cùng với trời đất muôn đời bất hủ!

“Các ngươi vốn dòng võ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện xưa, nửa tin, nửa ngờ. Thôi, những chuyện xưa, ta chẳng nói đến nữa. Nay ta chỉ kể chuyện đời Tống, Nguyên mới đây: Vương Công Kiên[102]là người thế nào? Tỳ tướng của ông là Nguyễn Văn Lập là người thế nào? Mà giữ thành Điểu Ngư[103]nhỏ bằng cái đấu,  chống với quân Mông Kha[104]đông hàng trăm vạn, khiến cho nhân dân Tống đến nay còn đội ơn sâu! Cốt Đãi Ngột lang[105]là người thế nào? Tỳ tướng của ông là Xích Tu Tư lại là người thế nào? Dám xông pha vào chỗ lam chướng xa xôi ngàn dặm, đánh bại quân Nam Chiếu trong vài tuần, khiến cho quân tướng đời Nguyên, đến nay còn lưu tiếng tốt!

“Huống nữa, ta cùng các ngươi, sinh nhằm thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan, nhìn thấy lũ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà xỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ; ỷ thế Hốt Tất Liệt[106]mà đòi ngọc lụa, để thỏa lòng tham không cùng; mượn danh hiệu Vân Nam Vương[107]để thu bạc vàng, vơ vét hết của khó có hạn. Thật khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, tránh sao khỏi tai vạ về sau?

“Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xé thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa,[108]cũng nguyện xin làm.

“Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền cũng đã lâu ngày, thiếu áo mặc ta cho áo, thiếu cơm ăn ta cho cơm, quan nhỏ thì ta thăng chức, lương ít ta cấp thêm bổng lộc, lúc đi thuyền ta cho thuyền, đi bộ ta cấp cho ngựa, khi xông pha trận mạc, sống chết bên nhau; những lúc khao thưởng thì cùng nhau nói cười vui vẻ. Cách cư xử so với Vương Công Kiên, Cốt Đãi Ngột Lang ngày trước nào có kém gì?

“Nay các ngươi thấy chủ bị nhục mà không biết lo, nhìn quốc sỉ mà không biết thẹn. Làm tướng một nước, phải hầu quân giặc mà không biết tức, nghe nhạc thái thường[109]để thết tiệc ngụy sứ mà không biết căm. Hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển, hoặc vui thú vườn ruộng, hoặc quyến luyến vợ con, hoặc chỉ nghĩ kế sinh nhai tư lợi mà quên việc nước, hoặc ham săn bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát. Nếu có giặc Mông Thát tràn sang, thì cựa gà không thể đâm thủng áo giáp của giặc; mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà binh, dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, tấm thân quí ngàn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bịu con dìu, việc quân cơ trăm sự ích chi; tiền của tuy nhiều không thể mua được đầu giặc; chó săn khỏe, không đuổi được quân thù: chén rượu ngon không thể làm cho giặc say chết; tiếng hát hay, không thể làm cho giặc điếc tai. Lúc bấy giờ, ta cùng các ngươi sẽ bị bắt, đau xót biết chừng nào! Chẳng những thái ấp của ta không còn, mà bổng lộc các ngươi cũng mất; chẳng những gia quyến của ta bị đuổi, mà vợ con các ngươi cũng nguy khốn; chẳng những xã tắc tổ tông ta bị giày xéo, mà mồ mả cha mẹ các ngươi cũng bị phát quật; chẳng những thân ta kiếp này bị nhục, mà đến trăm năm sau, tiếng dơ không rửa, tên xấu còn lưu, mà đến gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang tiếng là tướng bại trận. Lúc ấy, các ngươi dẫu muốn vui chơi phỏng có được không?

“Ta bảo thật các ngươi: phải cẩn thận ngừa sự nguy hại như “châm mồi lửa trong đống củi”[110], nên lấy điều tự răn như “kiêng canh nóng mà thổi rau nguội”. Các ngươi hãy huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên, khiến cho người người giỏi như Bàng Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ[111]có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt ở cửa Khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở chốn Cảo Nhai[112]. Như vậy, chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền, mà bổng lộc các ngươi cũng đời đời hưởng thụ; chẳng những gia quyến của ta được êm ấm gối chăn, mà vợ con các ngươi cũng được trăm năm sống sum họp hòa vui; chẳng những tông miếu của ta được muôn đời tế lễ, mà tổ tông các ngươi cũng được quanh năm thờ cúng; chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí, mà đến các ngươi, trăm năm về sau tiếng thơm lưu truyền; chẳng những danh hiệu ta không bị mai một, mà đến tên họ các ngươi cũng lưu truyền sử sách. Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui vẻ phỏng có được không?

“Nay ta chọn lấy binh pháp của các danh gia, soạn làm một quyển, gọi là BINH THƯ YẾU LƯỢC. Các ngươi hãy chuyên chú luyện tập theo sách này, vâng lời ta dạy, thì mới phải đạo thần tử, bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy bảo của ta, suốt đời sẽ là kẻ nghịch thù.

Vì sao vậy? Bởi giặc Nguyên với ta là kẻ thù không đội trời chung, các ngươi cứ điềm nhiên, không biết rửa nhục, không lo trừ hiểm họa, không biết dạy quân sĩ; chẳng khác nào quay mũi giáo mà quy hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc, nếu như sau trận Bình Lỗ[113]mà ta phải chịu tiếng xấu muôn đời thì còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa!

“Ta viết bài hịch này để các ngươi hiểu rõ lòng ta”.[114]

Bài hịch đã thổi bùng lên ngọn lửa Chính Nghĩa, nhằm vạch một hướng đi cho tướng tá, quân đội và toàn dân, muôn người như một, cương quyết đánh bại quân địch, giữ gìn từng tất đất của Tổ quốc thân yêu. Được khởi động bởi lòng yêu nước, chí căm thù cực độ, qua bài hịch trên, chiến sĩ đã tự mình thích vào cánh tay hai chữ “Sát Thát”, nghĩa là giết quân Mông Cổ.

Đầu năm 1285, vua Nhân Tông triệu tập Hội Nghị Diên Hồng[115]mời các bậc phụ lão – những người đại biểu của nhân dân – về kinh đô Thăng Long dự hội, để hỏi kế đánh giặc. Các vị đại biểu nhất loạt hô to “Quyết Đánh”. Tiếng hô “Quyết Đánh” của các phụ lão như một làn chớp lan ra khắp trong nước, từ kinh thành đến các phủ, huyện, nơi hang cùng ngõ hẻm, tạo thành một khối dân tộc đoàn kết lớn mạnh, không phân biệt đồng bào Kinh hay Thượng, tất cả đều cương quyết đứng lên đánh giặc, bảo toàn lãnh thổ và quyền dân tộc độc lập.

Vua xuống chiếu cho Hưng Đạo Đại Vương, ra lệnh cho các tướng ta dưới quyền, cấp tốc điều động binh sĩ, trấn giữ các phòng tuyến hiểm yếu để ngăn chặn địch. Bảo nghĩa vương Trần Bình Trọng được lệnh đem quân giữ khúc sông Bình Than (địa giới tỉnh Bắc Ninh).

Nhân huệ Vương Trần Khánh Dư đóng quân tại Vân Đồn (thuộc Vân Hải, tỉnh Quảng Yên). Còn chính Hưng Đạo Đại Vương thì dẫn đại quân đóng bản doanh ở Vạn Kiếp (tỉnh Hải Dương) để tiếp ứng cho các nơi, khi chiến trận xảy ra.

Ngày 27-1-1285, quân Nguyên tiến vào nội địa nước ta, đánh chiếm vùng núi Kỳ Cấp, ải Khả Ly và Lộc Châu. Quân ta đánh nhau với quân địch ở núi Kỳ Cấp hai ba trận, vẫn không phân thắng bại, vì ải Khả Ly và Lộc Châu thất thủ, nên phải rút quân về Chi Lăng (địa phận Ôn châu, tỉnh lạng Sơn). Thoát Hoan dẫn đại binh đánh Chi Lăng.

Hưng Đạo Đại Vương thua trận, lui quân về Vạn Kiếp.

Ngày 11 tháng 2, Thoát Hoan đánh chiếm Vạn Kiếp[116].  Trước sức tiến công vũ bão của địch, quân ta phải rút về cố thủ mạn sông Hồng. Trong trận chiến này, 20 vạn chiến thuyền của ta bị chúng cướp mất cả (Việt sử Tiêu Án). Quân địch thừa thắng kéo lên vùng Vũ Ninh, rồi tràn xuống Đông Ngạn, vượt sông Đuống đến Gia Lâm, đi tới đâu, chúng tàn phá, cướp bóc, chém giết tới đó. Trên đường tiến quân, địch bắt được quân sĩ ta, thấy cánh tay thích hai chữ “Sát Thát”, chúng nổi giận, lại càng chém giết mạnh hơn.

Cách 7 ngày sau, ngày 18 tháng 2, quân ta giao chiến với địch ở bờ sông Hồng. Địch dùng súng đại bác bắn yểm trợ và dùng cầu phao qua sông, kéo đến đánh chiếm Thăng Long, nhưng khi vào được thành thì chỉ còn trơ trụi những thành quách, cung điện, chùa tháp… bỏ trống; phố xá vắng tanh vắng ngắt, không một bóng người, phản chiếu trên một tấm bảng những hàng chữ như thách thức bảo cho chúng biết:

“Tất cả các quận, huyện trong nước, nếu có giặc ngoại xâm, phải liều chết mà đánh; nếu sức không địch nổi thì cho phép lẩn tránh vào rừng núi, không được đầu hàng”[117].

Thoát Hoan tuy chiếm được Thăng Long nhưng không dám đóng quân trong thành.

Để tránh giặc, triều đình ta dời xuống Thiên Trường (Nam Định).

Thoát Hoan huy động đại quân đánh xuống Thiên Trường. Bảo nghĩa vương Trần Bình Trọng đóng quân tại đây (Thiên Trường), chặn đánh quân Nguyên ở bãi Đà Mạc (khúc sông Thiên Mạc, huyện Đông Anh, Hưng Yên), không may bị giặc bắt và giết.[118]Thượng hoàng Thánh Tông và vua cùng triều đình nghe tin Trần Bình Trọng tử tiết, ai nấy ngậm ngùi xúc động, thương tiếc người anh hùng dân tộc, đã vì nước hy sinh một cách cao cả!

Một đạo quân khác của nhà Nguyên, do Nạp Tốc Lạt Đinh chỉ huy từ Vân Nam tiến sang, vừa đến Thu Vật (Yên Bình, Yên Bái) thì bị đoàn quân của Chiêu văn vương Trần Nhật Duật giữ mặt Yên Bái chặn đánh, nhưng vẫn không cản nổi địch, nên phải lui quân về mạn hạ lưu sông Hồng.

Ở mặt trận phía Nam, đạo quân của Toa Đô đóng tại Việt Lý, Ô Lý (Quảng Trị, Thừa Thiên), theo đường bộ kéo ra đánh Hoan Châu (Nghệ An)[119]đồng thời một đạo quân của Ô Mã Nhi cũng từ mặt bể đánh vào. Quan trấn thủ Nghệ An là Chương hiền hầu Trần Kiện đem cả gia quyến và một vạn quân ra hàng giặc.

Chiêu minh vương Trần Quang Khải, chỉ huy mặt trận Nghệ An, do đó đã gặp rất nhiều khó khăn, phải rút quân ra xa thị trấn.

Đoàn quân của Toa Đô tiếp tục tiến qua Ái Châu (Thanh Hóa), đến Trường Yên (Ninh Bình), kết hợp với đại quân của Thoát Hoan, tạo thành hai gọng kìm, hòng bao vây tiêu diệt toàn bộ lực lượng kháng chiến của nhân dân ta. Vua và triều đình thấy tình thế nguy khốn, dời Trường Yên đi Quảng Yên, khi thuyền tới sông Tam Trĩ (châu Tiên Yên) bị tướng nhà Nguyên là Lý Hằng và Khoan Triệt cho quân đuổi theo. Hưng Đạo Đại Vương rước vua lên bộ đi đến bến sông Nam Triều (tức sông Bạch Đằng, Hải Dương), xuống thuyền vượt qua cửa bể Đại Bàng (thuộc huyện Nghi Dương) để vào tỉnh Thanh Hóa.[120]

Khi biết được vua và triều đình đã vào Thanh Hóa, Toa Đô liền cho quân quay trở lại đánh Thanh Hóa[121]. Còn Thoát Hoan thì lui quân về đóng ở Thăng Long và dọc sông Hồng.

Giữa lúc cuộc kháng chiến chống quân xâm lăng của dân tộc đang lâm vào tình huống hết sức bi đát, thì một số quí tộc, quan lại hèn nhát, dao động, vội vã ra hàng giặc, như bọn Trần Ích Tắc, Trần Tù Viên…[122]

Để củng cố vùng chiếm đóng, Thoát Hoan sai Lý Bang Hiến, Lưu Thế Anh lập nhiều trại từ Lạng Sơn về miền xuôi. Cứ 30 dặm dựng một trại, có 200 quân đóng, và cách 60 dặm, đặt một trạm ngựa, để liên lạc với nhau; đồng thời để ngừa sự phá quấy kháng chiến còn tản mát ở khắp làng mạc cùng những nơi hiểm yếu, như đội quân người Tày của Nguyễn Thế Lộc, Nguyễn Lĩnh đang ráo riết hoạt động theo lối “du kích chiến” ngay trên đất Lạng Sơn do chúng chiếm đóng.

Thời tiết bắt đầu vào hè, quân địch không chịu nổi sức nóng như thiêu đốt da thịt, sinh ra mệt mỏi, ốm đau, chết chóc, lương thực ngày càng thiếu thốn; lại luôn luôn bị những toán quân của ta ở địa phương quấy phá. Địch bị dồn vào thế thụ động, tiến thoái lưỡng nan.

Hoàn cảnh có chiều hướng thuận tiện cho ta mở cuộc phản công, vua và quần thần hội tại Thanh Hóa, để bàn định kế hoạch. Hưng Đạo Đại Vương tâu: ‘Toa Đô từ Ô Lý (Thuận Hoá) tiến ra Hoan Châu (Nghệ An), rồi qua Ái Châu (Thanh Hoá), đường sá gập ghềnh, quân sĩ rất mệt mỏi, nay lại vượt bể ra bắc, sức lực hẳn đã suy yếu. Vậy ta đem quân ra đánh thì chắc phá được”. Vua chấp thuận và hạ lệnh cho các tướng tá chỉnh đốn quân ngũ, chuẩn bị khí giới, tàu thuyền, xe ngựa, định ngày tiến quân ra bắc, giải phóng quê hương.

Tháng 5 năm 1285, Hưng Đạo Đại Vương, từ Thanh Hóa tiến quân ra bắc, chia đi các ngả, đánh vào những sào huyệt của địch chiếm đóng. Chiêu văn vương Trần Nhật Duật được chỉ định cùng với Trần Quốc Toản và tướng quân Nguyễn Khoái dẫn 5 vạn chiến binh đi về nẻo Hải Dương, đến cửa Hàm Tử (huyện Đông Anh, Hưng Yên), gặp chiến thuyền của Toa Đô, quân ta đã vây đánh bại quân địch tại đây, mở đầu cho những chiến công sau này của quân đội ta đánh vào các căn cứ địch ở Chương Dương, ở Tây Kết … Đạo quân của Chiêu minh vương Trần Quang Khải và Phạm Ngũ Lão đi theo đường bể, ra đến Thường Tín (gần Thăng Long), tiến công tới tấp vào những chiến thuyền của địch đậu ở bến Chương Dương. Địch hoảng hốt bỏ chạy tán loạn.

Ngày 7 – 6 – 1285, từ Thanh Hoá, vua Nhân Tông kéo quân ra đánh tan quân địch ở Trường Yên. Đến ngày 10 tháng 6, quân ta đổ bộ đánh bật quân địch ra khỏi Thăng Long. Thoát Hoan phải rút quân chạy ra phía sông Hồng hy vọng có đường trở về nước, khỏi bị tiêu diệt. Trong khi đó, những chiến thuyền của Toa Đô và Ô Mã Nhi đang trên đường tiến ra bắc để hợp lực với Thoát Hoan; đến sông Thiên Mạc,[123]mới biết rằng đạo tiền quân chủ lực, do trấn nam vương Thoát Hoan tổng chỉ huy, đã bại trận rút về phía bắc sông Hồng, liền cho lui quân đến Tây Kết.

Ngày 24 tháng 6, vua Nhân Tông dẫn đại quân tới đánh, đoàn quân của Toa Đô và Ô Mã Nhi thua bỏ chạy đến sau một dãy núi thì bị đoàn quân của Hưng Đạo Đại vương phục sẵn, ùa ra đánh tan quân địch, chém đầu Toa Đô tại trận, bắt sống hơn ba vạn quân và tịch thu rất nhiều chiến thuyền, khí giới của địch. Ô Mã Nhi sợ hãi, mang bộ mặt của một tên tướng bại trận, lủi thủi xuống thuyền nhỏ, bơi vội ra bể, trốn thoát được. Thoát Hoan nhận được tin nguyên soái Toa Đô tử trận và Ô Mã Nhi đã trốn về Tàu, vội vàng thu quân về nuớc; đến sông Cầu, thì gặp cánh quân của Trần Quốc Toản đón đánh; chúng rút lui, theo ngả sông Thương; đến Vạn Kiếp, chưa kịp qua sông, đã bị cánh quân của Nguyễn Khoái, Phạm Ngũ Lão mai phục trong rừng nứa, kéo ra đánh, tướng nhà Nguyên là Lý Hằng trúng tên độc bắn chết. Quân địch bị chết và bị bắt quá nửa. Bọn Thoát Hoan, Phàn Tiếp, A Bát xích, Lý Quán cố đốc thúc tàn quân, liều mạng mở một đường máu để tháo chạy, Thoát Hoan phải chui vào ống đồngmới khỏi chết. Trên đường về châu Tư Minh, đến Vĩnh Bình (Lạng Sơn) chúng lại gặp phải cánh quân của Hưng vũ vương Nghiễn và Hưng hiếu vương Úy – con trai Hưng Đạo Đại Vương – đuổi đánh. Lý Quán bị bắn chết. Thoát Hoan, A Bát Xích, Phàn Tiếp chạy thoát về nước.

Cuộc kháng chiến chống xâm lăng của nhà Trần lần thứ hai, kéo dài 6 tháng trời (từ tháng 1 đến tháng 6 năm 1285), quân ta mới đánh đuổi được quân nguyên ra khỏi bờ cõi.

Khi đã giải phóng thủ đô Thăng Long, cảnh thái bình trở lại với toàn dân, triều đình mở hội ăn mừng, thượng tướng Trần Quang Khải đã phản ánh trong một bài thơ, nói lên cái tâm trạng và khí thế kiêu hùng bất khuất của dân tộc Việt trong cuộc kháng chiến nhiều gian khổ, nhưng cũng rất tự tin, biết vận dụng sáng tạo, dồn địch vào thế thụ động… phải hàng, và cuối cùng là đem chiến thắng vinh quang hiến dâng Tổ quốc mến yêu:

Bến Chương Dương đuổi giặc

Cửa Hàm Tử diệt thù.

Thái bình nên gắng sức,

Đất nuớc vững ngàn thu.

(Đoạt sáo Chương Dương độ

Cầm Hồ Hàm Tử quan.

Thái bình tu nỗ lực[124]

Vạn cổ thử (36) giang sơn.

Lần Thứ ba – chỉ cách hai tháng sau ngày bại trận về nước, tháng 8 năm 1285, cơ mật viện của triều đình nhà Nguyên đã thảo xong kế hoạch điều động quân sĩ trở lại đánh nước Đại Việt, hòng rửa cái nhục đã hai lần đánh nước ta – vào những năm 1258, 1285 – mà cả hai lần chúng đều bị thảm bại. Hốt Tất Liệt, ra lệnh bãi bỏ cuộc viễn chinh xâm lăng Nhật Bản, để tập trung lực lượng vào cuộc Nam chinh. Kế hoạch chuẩn bị đánh nước Đại Việt của nhà Nguyên lần này được sửa soạn thật chu đáo, không riêng về mặt quân sự không thôi, mà về mặt chính trị cũng được quan tâm tới.

-Về Quân Sự: ngoài bộ binh và kị binh, nhà Nguyên còn tăng cường thủy binh, cho đóng thêm ba trăm chiến hạm, truyền hịch cho các quan đầu tỉnh phía Nam Trung Hoa, tập hợp quân sĩ để hợp lực cùng với quân chính qui của triều đình, định đến tháng tám sẽ tiến quân theo đường châu Khâm, châu Liêm sang đánh báo thù nước ta.

Về Chính Trị: Hốt Tất Liệt cho phép bọn Trần Ích Tắc, Trần Tú Viên (có sách viết là Hoãn) Trần văn Lộng, Lại Ích Khung… thành lập chính phủ lưu vong, chờ khi quân Nguyên kéo sang, thì bọn chúng sẽ đi về nước làm tay sai cho giặc.

Vua Nhân Tông được mật tin nhà Nguyên sắp sửa dẫn đại quân qua đánh nước Đại Việt, liền cho vời Hưng Đạo Đại Vương tới bàn việc: :Thoát Hoan bại trận trở về, hắn căm tức, chuyến này định sang đánh báo thù, quân thế hẳn to hơn trước, ta nên dùng kế gì mà chống lại được?” Với lòng tự tin ở tài năng chỉ huy chiến đấu của mình và sự từng trải qua hai cuộc kháng chiến chống xâm lăng, vị tướng thiên tài, không những giỏi về quân sự mà còn giỏi cả về chính trị, đã quả quyết tâu: :Nước nhà xưa kia, quân dân hưởng thái bình đã lâu, không quen việc chiến trận, cho nên năm trước quân Nguyên vào cướp, còn có kẻ trốn tránh theo hàng giặc: May nhờ có oai linh tổ tông, và thần vũ của bệ hạ, đi đến đâu đánh được đến đấy, nên mới quét sạch được giặc ra khỏi bờ cõi. Còn như bây giờ, quân ta đem việc chinh chiến, mà quân địch thì đi xa mỏi mệt. Vả lại, thấy Toa Đô, Lý Hằng, Lý Quán tử trận, tất cũng chột dạ, quân sĩ đã nghi ngờ, hẳn không dám liều mạng để đánh. Cứ như ý thần, thì lần này dù quân Nguyên kéo sang, ta phá cũng dễ hơn lần trước, xin bệ hạ đừng lo”. (VNSL trang 152).

Vua mừng rỡ, sai Hưng Đạo Đại Vương “đốc suất các vương hầu, mộ thêm quân sĩ, sửa sang khí giới” để phòng bị khi quân Nguyên kéo tới. Giữa lúc nhà Nguyên gặp phải nhiều khó khăn: tình cảnh nghèo đói, dân chúng oán thán vì không chịu nổi sự cai trị tàn bạo của Hốt Tất Liệt, nên ở ngay trong nước cũng đã xả ra những cuộc chống đối, hoặc ngấm ngầm, hoặc công khai… làm trở ngại cho việc thu lương thực và tập trung quân sĩ. Sự kiện này được minh chứng qua tờ sớ của viên quan coi tỉnh Hồ Nam gởi triều đình nhà Nguyên: “Quân ta bại trận mới về, kẻ dấu vết chưa lành, người đau yếu chưa khỏi, xin hãy cho quân sĩ nghỉ ngơi dưỡng sức ít lâu, rồi sẽ định kế xuất chinh”. Tháng 7 năm 1286, Hốt Tất Liệt đành phải ra lệnh tạm hoãn cuộc Nam chinh.

Nhưng đầu năm 1287, nhà Nguyên gấp rút điều động quân sĩ: Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thưthì “cuộc xâm lăng lần này, nhà Nguyên điều động 50 vạn quân và riêng đạo quân đánh vào Vạn Kiếp đã đến 30 vạn, và 500 chiến hạm cho thủy quân. Thoát Hoan lại một lần nữa được vua Nguyên tin cậy trao chức tổng chỉ huy toàn bộ quân đội Nam chinh – để hắn có dịp lập công chuộc tội – vì đã từng bị thua trận ở Vạn Kiếp cuối tháng 6 năm 1285. Cuộc Nam chinh lần này, các tướng thuộc dưới quyền hắn đều là những tướng đã quen với chiến trận, bọn Áo Lỗ Xích, A Bát Xích, Trình Bằng Phi, Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp…

Ngày 25-12-1287, quân Nguyên chia làm ba đạo đi theo đường bộ và thủy tiến vào lãnh thổ Đại Việt (Hai đạo đi đường bộ): đạo quân chủ lực do Thoát Hoan trực tiếp chỉ huy cùng với Trình Bằng Phi từ Quảng Tây tiến sang; đạo quân thứ hai do Aùo Lỗ Xích chỉ huy từ Vân Nam kéo tới. Còn thủy quân do Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, thống lĩnh dẫn những chiến hạm cùng với đoàn thuyền chở lương thực, khí giới, quân nhu do Trương Văn Hổ phụ trách thì từ Khâm Châu (Quảng Đông) vượt biển tiến vào hải phận nước ta.

Về phía ta, Hưng Đạo Đại Vương đã dàn một trận đồ gồm ba mặt; đạo quân do Trần Nhật Duật và Nguyễn Khoái giữ vùng Lạng Sơn; đạo quân do Trần Quốc Toản, Lê Phụ Trần giữ vùng Nghệ An. Còn chính Hưng Đạo Đại Vương trực tiếp dẫn đại quân trấn giữ vùng Quảng Yên, đóng quân tại Phù Sơn; đồng thời cho một toán quân giữ phía Châu Tư Minh. Mặt khác, sai tiền quân giữ cửa sông Đại Than (Tỉnh Hải Dương). Tuy mặt trận dàn như thế, nhưng quân Nguyên quá lớn, và trước sức tiến công vũ bão của địch, quân ta “Theo kế hoạch của Hưng Đạo Đại Vương, vừa chặn đánh để kiềm chế và tiêu hao sinh lực địch, vừa tổ chức rút lui để bảo toàn lực lượng”.

Khi thủy quân địch kéo đến cửa bể An Bang (Quảng Yên) gặp đoàn thủy quân do phó tướng Trần Khánh Dư chỉ huy đón đánh, nhưng quân ta bị tổn thất, phải rút chạy.Ô Mã Nhi tiếp tục dẫn những chiến hạm vượt theo sông Bạch Đằng đến Vạn Kiếp để kịp hội quân với Thoát Hoan. Còn đoàn thuyền chở lương thực nặng nề, ì ạch tiến vào sau, vừa đến Vân Đồn (Cẩm Phả) liền bị đoàn quân của Trần Khánh Dư mai phục xông ra đánh và cướp lấy những thuyền chở lương thực, khí giới, quân nhu, và bắt trọn đoàn quân hộ tống của địch. Trương Văn Hổ sợ hãi, lẻn xuống một chiếc thuyền nhỏ trốn về Quảng Châu. được tin thắng trận ở Vân Đồn, thượng hoàng Thánh Tông mừng rỡ bảo với Hưng Đạo Đại Vương. “Quân Nguyên trông cậy có lương thảo, khí giới, nay đã bị ta lấy hết cả, thì thế nó không trường cửu được nữa. Nhưng nó chưa biết, tất còn đắc chí, vậy ta nên tha những quân bị bắt cho về báo tin với Thoát Hoan, thì quân sĩ của nó tất ngã lòng bấy giờ phá mới dễ”. (VNSL)

Chiến thắng Vân Đồn của thủy quân ta đã làm cho địch phải lúng túng không có cách nào giải quyết nổi vấn đề lương thực, kéo theo đấy sự thất bại về quân sự và (như vậy) chắc chắn chúng không thực hiện được những ý đồ đã hoạch định.

Ngày 2-1-1288, quân Nguyên đánh chiếm Vạn Kiếp, Thoát Hoan cho lập trại, đóng quân, lấy đó làm căn cứ quân sự. Và chỉ cách sau đó một tháng, ngày 2 tháng 2, quân Nguyên từ Vạn Kiếp vượt sông Hồng đánh vào Thăng Long. Triều đình ta tạm thời di tản khỏi kinh thành, xuống thuyền ra biển để vào Thanh Hóa. Thoát Hoan ra lệnh cho A Bát Xích dẫn bộ binh đánh vào các căn cứ quân sự của ta dóng dọc hai bên bờ sông Hồng, đồng thời sai Ô Mã Nhi dẫn thủy quân đuổi theo vua Nhân Tôn để trả thù cái nhục thua trận lần trước. Ô Mã Nhi thề độc và bảo với người nước ta: “Lũ ngươi lên trời hay chui xuống đất, ta cũng đuổi theo. lũ ngươi lên núi hay lặn xuống biển, ta cũng đi tới. (VSTA). Nhưng quân địch đã không làm sao bắt được vua và các quan đầu não chỉ huy cuộc kháng chiến của triều đình ta. Hắn tức giận, hung hăng kéo quân đến phá lăng tẩm nhà Trần ở Chiêu Lăng (Thái Bình); chúng đi đến đâu, cướp bóc, đốt phá, tàn sát nhân dân ta đến đó. Không bắt được vua Nhân Tông, Thoát Hoan rút quân trở về Thăng Long, lo củng cố vùng chiếm đóng, rồi sai Ô Mã Nhi dẫn chiến hạm ra biển đón thuyền lương do Trương Văn Hổ phụ trách. Ra đến cửa biển An Bang, Ô mã Nhi mới biết thuyền lương kia đã bị thủy quân ta tiêu diệt. Thất vọng hoàn toàn. Hắn đành cho những chiến hạm quay trở lại theo sông Bạch Đằng để về Vạn Kiếp.

Sau khi quân Nguyên thua trận ở Vân Đồn, những thuyền chở lương thực, một phần tự động đổ xuống bể, còn lại bao nhiêu đều bị quân ta tịch thu hết cả, khiến cho địch phải lúng túng, không biết giải quyết bằng đường lối nào để nuôi hàng chục vạn quân; Thoát Hoan có ý cho người về Tàu cầu viện và xin thêm lương thực, nhưng tại các ngả đường về Trung Hoa, chỗ nào cũng có quân ta canh gác nghiêm ngặt. Những vùng do địch tạm chiếp thường thường vẫn bị các toán quân lẻ tẻ của ta quấy phá, làm cho chúng không có lúc nào được yên ổn. Thời khí bắt đầu chuyển dần sang mùa hè nóng bức, rất bất lợi cho phía địch: quân sĩ thì hoang mang, mệt mỏi, buồn bực, chán nản và tuyệt vọng… chỉ mong sớm được trở về Tàu, họa may mới thoát khỏi chết.

Trước tình thế bi thảm ấy, ngày 5-3-1288, Thoát Hoan ra lệnh đốt phá kinh thành Thăng Long, rồi cho lui quân về đóng ở Vạn Kiếp. A Bát Xích được chỉ định đi tiên phong đánh dẹp các cửa ải và để bắc cầu… Trên đường về Vạn Kiếp bọn chúng kéo đến các làng xóm cướp giật thóc gạo (theo VSTA). Chuyến lui quân này chúng đã cướp hơn 4 vạn thạch gạo và các vật của dân để bù vào chỗ thiếu hụt lương thực. Quân Nguyên đang bị dồn vào thế thụ động hoàn toàn. Thoát Hoan lo sợ trước nguy cơ bị bao vây không chỉ về mặt tiếp lương thực mà còn bị đe dọa cả về quân sự nữa. Phải xoay xở cách nào để thoát ra khỏi vũng lầy cuộc xâm lăng phi nghĩa? –Tiếp tục ở lại chiến đấu? –Điều đó không thực hiện được, vì thiếu lương thực, quân sĩ rã rời, nhốn nháo, và mất hết tin tưởng, không còn đủ sức chiến đấu. Hay rút quân về? – Nhưng còn danh dự của một nước “thiên triều”? Hằng chục câu hỏi được đặt ra đều không có câu trả lời. Bọn chúng ngơ ngác như những bầy thú không tìm được phương hướng để ra! Bế tắc khắp mặt. Các tướng lĩnh dưới quyền hắn đề nghị: “Quân ta đóng ở đây (Vạn Kiếp), thành trì không có, kho tàng lại cạn cả; vả bây giờ là lúc hết xuân sang hạ, khí trời nóng nực, mà những chỗ hiểm yếu đều mất cả. Chi bằng hãy rút quân về, rồi sau sẽ liệu kế khác”.

Để tránh khỏi bị tiêu diệt, Thoát Hoan quyết định rút quân, và chia làm hai đạo, theo hai ngả đường bộ và đường thủy về nước. Ô Mã Nhi, phàn Tiếp chỉ huy đạo thủy binh dẫn những chiến hạm theo sông bạch Đằng ra biển. Thoát Hoan trực tiếp chỉ huy đạo bộ binh theo đường qua Lạng Sơn. Cuộc rút quân của địch đúng như Hưng Đạo Đại Vương đã tiên liệu: “…Lần này, dù quân Nguyên kéo sang, ta phá cũng dễ thôi”. Và một trận đồ đã được bố trí sẵn sàng để tiêu diệt địch. Hưng Đạo Đại Vương, một mặt, sai Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Chế Nghĩa dẫn một đạo quân lên trấn thủ ải Nội Bàng (Lạng Sơn). Mặt khác, sai Nguyển Khoái chặn địch trên sông bạch Đằng.

Ngày 30-3-1288, đạo thủy binh của địch bắt đầu rút, trên bộ có kỵ binh đi hộ tống, nhưng gặp trở ngại vì có nhiều đoạn cầu đường do quân ta phá hủy, Trình Bằng Phi đành phải lui quân quay trở về Vạn Kiếp. Còn những chiến hạm của ô mã Nhi vẫn tiếp tục di chuyển mọt cách chậm chạp, mãi đến ngày 9-4 mới tới sông Bạch Đằng[125]Đoàn chiến thuyền của ta, do Nguyễn Khoái chỉ huy, tiến ra khiêu chiến, rồi giả vờ thua, quay thuyền chạy. Ô Mã Nhi cho chiến hạm đuổi theo, gặp lúc thủy triều xuống, chiến hạm của địch lao nhanh theo dòng nước trôi nên va phải những hàng rào chông, một số bị vỡ và bị đắm chìm[126]. Đang lúc quân địch bối rối, thì đạo quân của ta, gồm bộ binh và thủy binh, do vua Nhân Tông và Hưng Đạo Đại Vương chỉ huy, kéo tới giao chiến. Cuộc chiến đấu diễn ra rất ác liệt. Quân ta đại thắng. Đạo thủy binh của địch bị tiêu diệt hoàn toàn. Xác của những quân địch chết trôi lềnh bềnh trên mặt nước đến nỗi máu loang đỏ ngầu cả một khúc sông[127].Các tướng giặc Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ… đều bị bắt sống. Quân đội ta tịch thu 400 chiến hạm của địch và rất nhiều chiến lợi phẩm khác.

Thoát Hoan được tin đạo thủy binh đã bị tiêu diệt, hắn hoảng sợ, vội vã cùng các tướng Trình bằng Phi, A Bát Xích, Áo Lỗ Xích… dẫn bộ binh rút chạy theo đường Lạng Sơn về nước, đến ải Nội Bàng, thì gặp đạo quân của Phạm Ngũ Lão từ các đường hẻm đổ ra vây đánh tới tấp vào quân địch, chúng bị thua, chạy tán loạn. Thoát Hoan thúc giục các tướng và đám tàn binh liều mạng vừa đánh vừa tháo chạy. Quân ta càng ráo riết đuổi đánh. A Bát Xích bị tử trận, quân địch chết như rạ, xác nằm sõng soài, ngổn ngang suốt dọc đường dài từ Nội Bàng đến Tư Minh. Cuối cùng Thoát Hoan phải mở con đường máu mới chạy thoát được về nước.

Cuộc xâm lăng lần thứ ba của nhà nguyên đã bị quân ta dẹp tan.

Khi đã toàn thắng, Hưng Đạo Đại Vương dẫn quân rước xa giá Thượng Hoàng và vua hồi kinh, về đến phủ Long Hưng, vua sai đem bọn tướng Nguyên bị bắt là ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ… vào làm lễ yết kiến ở trước Chiêu Lăng. Nhân thấy cảnh giang sơn lại vẫn được như cũ, vua đã làm hai câu thơ:

Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã

Sơn hà thiên cổ điện kim âu.

(Xã tắc hai phen chồn ngựa đá,

Non sông muôn thuở vững âu vàng[128]

Trần trọng Kim dịch.

Ngày 28-4-1288, vua và triều đình về đến kinh đô Thăng Long, thết tiệc khao thưởng tướng sĩ, cho dân mở hội ba ngày, gọi là Thái Bình Diên Yến. Mãi đến năm sau, tức niên hiệu Trùng Hưng thứ V (1289), vua và triều đình mới “xét công, phạt tội” để nêu gương sáng của những người có công trong cuộc chống xâm lăng, giữ gìn đất nước, và phạt những kẻ có tội đã hàng giặc, làm tay sai cho chúng. Những người có công đều được thăng thưởng xứng đáng. Vua còn sai văn thần ghi chép công trạng của các tướng làm thành quyển “TRUNG HƯNG THỰC LỤC” và cho vẽ tranh các tướng để treo tại sảnh đường, nơi hội họp của các bậc công thần trong nước. Khi xét đến những kẻ đã hàng giặc, một tráp biểu hàng của các quan mà triều đình đã bắt được, được đình thần đưa ra, để luận tội. Nhưng thượng hoàng Thánh Tông đã sai [129]đốt cả đi, cho yên lòng mọi người. Những người quả thực đã hàng giặc, như bọn Trần Kiện, Trần Văn Lộng thì tuy đã chết, con cháu cũng phải tước họ tôn thất (đổi họ là họ Mai) để nghiêm phép  nước. Còn Trần Ích Tắc, thì vua nghĩ tình cận thân không nỡ bỏ họ, nhưng phải gọi là Á Trần, ý muốn nói: nhút nhát như đàn bà. Còn những quân nhân phạm tội thì đều được tha hết; duy hai làng Bàng Hà, Ba Điểm theo giặc trước tiên, thì dân cả hai làng đều phải tội “đồ” làm lính, không khi nào còn được làm quan (theo VNSL).

*****

… Một hôm, gặp tiết xuân sang, khí trời diệu mát, vua Nhân Tông cùng các quan trong triều đi viếng Chiêu Lăng là lăng của vua Trần Thái Tông, để tỏ lòng tôn kính nhớ ơn đối với vị đã có công khái sáng nhà Trần.

“Non kia ai đắp mà cao

Sông kia ai bới ai đào mà sâu?”

Trên đường đi, vua có khởi hứng đọc bài Ngũ ngôn tuyệt cú “Xuân Nhật Yết Chiêu Lăng”.

Trượng vệ thiên môn túc

Y quan thất phẩm thông

Bạch đầu quân sĩ tại

Vãng vãng thuyết Nguyên Phong.

(Trần Nhân Tông).

Dịch :

Ngày Xuân Viếng Chiêu lăng

Nghi vệ bày nghiêm túc

Quần thần mũ áo đông

Lính già đầu nhuốm bạc

Thường kể chuyện Nguyên Phong.

(Câu chuyện nguyên Phong nhắc nhở cho ta nhớ lại Thời Đại Trần Thái Tông vào năm 1258 đã chiến thắng quân Mông Cổ khet tiếng là đạo quân hung bạo nhất thời bấy giờ. Đoàn kỵ binh của chúng đã từng giày xéo trên khắp lục địa Âu Á, thế mà khi qua đánh nước Đại Việt nhỏ bé, chúng đã bị thảm bại. Trong tiết mùa xuân, vua Nhân Tông đến viếng lăng ông nội ở Chiêu Lăng, lòng hoài niệm đến những chiến sĩ vô danh đã hy sinh cho Tổ quốc, trong số những người lính còn sống đến nay tuy đầu đã bạc phơ, nhưng nhìn họ như tỏa ra hào khí của những người chiến sĩ đã dự vào cuộc kháng chiến chống quân Mộng Cổ, vẫn vui vẻ nói cười bên nhau “kể chuyện Nguyên Phong”, đã gây xúc động sâu xa trong tâm tư mọi người, có lẽ do đấy mà vua cảm giác nên bài thơ “Xuân Nhật Yết Chiêu Lăng” này).

-Ba Lần đất nước đã bị quân Mông Nguyên hung bạo giày xéo… Nhưng đến nay, thì giặc đã bị tiêu diệt, quang cảnh “Thái Bình Hưng Quốc” đã được vãn hồi, thể hiện rõ nét nơi Cảnh và người “Trăng in ả bóng, người thảnh thơi lòng = nguyệt vô sự, chiếu nhân vô sự”. Rồi, nhân một ngày rảnh rỗi, thượng hoàng Thánh Tông về thăm quê hương ở Thiên Trường (Nam Định), đối cảnh sinh tình, ngài đã cảm hứng làm bài thơ tuyệt bút “Hạnh Thiên Trường Hành Cung”.

“Cảnh thanh u, vật diệc thanh u,

Thập nhị tiên châu, thử nah61t châu.

Bách bộ sinh ca, cầm bách thiệt,

Thiên hàng nô bộc, quất thiên đầu.

Nguyệt vô sự, chiếu nhân vô sự,

Thủy hữu thu, hàm thiên hữu thu.

Tứ hải dĩ thanh, trần dĩ tĩnh,

Kim niên du thắng, tích niên du.

Giải nghĩa:

Cảnh thanh u, vật cũng thanh u

Mười hia châu, đây là châu thứ nhất

Giọng chim ríu rít như trăm tiếng sênh ca.

Bóng quýt lô nhô như hàng ngàn tôi tớ

Trăng êm ả bóng, người thảnh thơi lòng

Làn nước thu lai láng dầm mảnh trời thu

Bốn phương rày đã thanh bình, chiến trận đã sạch

Cuộc du quan năm nay vui hơn năm xưa.

Cảnh vật thanh u, khéo giống nhau,

Mười hai châu trội một tiên châu.

Sáo đàn réo rắt chim hòa nhịp,

Tôi tớ lô nhô quýt đứng chầu.

Lòng khách lặng tờ in bóng nguyệt,

Một doành trong vắt lộn trời thâu.

Thanh bình bốn bể im tro bụi,

So việc du quan trước kém sau.

Bản dịch Việt Nhân Vũ Huy Chiểu

(Hoàng Việt Thi tuyển)

Về bài thơ này, Ngô Thời Sỹ trong Việt Sử Tiêu Án đã viết: “Từ năm Thiệu Bảo (1284) nổi cuộc binh đao, hai lần đánh quân Nguyên, may mà xã tắc lại yên, giang sơn như cũ, tuy rằng lòng trời giúp cho, nhưng nhân sự cũng rất gian nan. Họp vương bàn luận ở Bình Than, đãi phụ lão ở Diên Hồng, không hạng nào không đến. Khi vào Thanh Hóa, khi ra Hải Đông, lúc đi Đại Bàng, lúc về Thiên Trường, không đâu không bước chân tới. Nhất đán rửa sạch bụi Hồ, lại yên thế nước, về thăm cố hương, mắt trông cảnh đẹp, tai nghe chim hót, chén rựơu dưới trăng, tiếng đàn bờ suối, nghĩ lại khi đi Chí Linh, Vạn Kiếp, giao chiến ở Đại Than, Bạch Đằng, những lúc con thuyền lênh đênh, dùng bát cơm hẩm, vua tôi, cha con vẫn một lòng lo sao qua cơn sóng gió. Sở dĩ vì có hoài cảm ấy mà làm bài thơ trên đây”. Và nhà nghiên cứu văn học Thạch Trung Giả (trong tác phẩm “Hồn Dân Tộc Năm Ngàn Năm)” (bản cảo) viết về bài thơ trên như sau: “Bài Hạnh Thiên Trường Hành Cung”, diễn tả không khí thái bình đến mức độ sâu xa linh động hiếm ai đạt. Tất cả những nét ghi lại đều rất thực, đều do quan sát trực tiếp và tinh vi. Những ai đã đến miền này (phủ Thiên Trường) đều nhận thấy là đúng, dầu đã bảy thế kỷ qua đi. Từ cảnh ngôi làng đình thôn ở giữa một con sông nhỏ thông ra sông cái đầu làng đến cảnh chim chóc, cam quít đỏ ối đến bây giờ vẫn còn.

– Hai câu phá, thừa  nhẹ nhàng mau lẹ, phác họa không khí và đại thể.

– Hai câu thực đưa cảnh ban ngày với âm thanh rộn rã của mọi loài chim, với màu sắc đỏ ối của hàng ngàn cam quít.

– Hai câu luận, cảnh về đêm với vầng trăng vằng vặc thanh tịnh toả ánh sáng xuống cho người mà cũng hiến cho người hình ảnh của tâm linh; đáy nước trong phản ảnh trời thu trong gợi cho ta ý niệm về thái bình khắp thiên hạ, từ chiều cao xuống chiều sâu, từ bên ngoài vào nội tâm.

– Hai câu kết  gói trọn ý tưởng của toàn bài, nói rõ những điều đã gợi”.

Với cương vị một người lãnh đạo quốc gia, vua Nhân Tông, trải qua hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lăng nhà Nguyên, từng vào sinh ra tử, mong sao đất nước chóng qua cơn sóng gió… thì nay sóng gió đã tan, “bốn bê yên rôì, dơ bụi sạch”  (tứ hải dĩ thanh, trần dĩ tĩnh).

… Kể từ niên hiệu Trùng Hưng thứ V (1289), khi đất nước sạch bóng quân thù, hết giặc giã, cảnh thái bình thực sự trở lại với toàn dân. Thực hiện cái đại nguyện ấp ủ từ lâu cua “xuất gia đầu Phật”.[130]   

 

1 năm 1232, cách bảy năm sau, kể từ khi Thái Tông lên ngôi vua, triều đình đã cho mở khoa thi Thái Học Sinh (tiến sĩ), và các năm:

1236, đặt ra Đề Điều quốc Tử Giám để cho con em các quan vào đấy học.

1243, cho sửa lại Quốc Tử Giám.

1246, ấn định hạn khoa thi là bảy năm có một khoa.

1252, sự học được mở rộng, triều đình cho phép con thường dân nào tuấn tú đều được theo học với con các quan ở Quốc Tử Giám.

1253, lập viện Quốc học để giảng Tứ Thư, Ngũ kinh, và lập giảng đường để luyện võ nghệ. Trường đã đào tạo được những nhân tài nổi tiếng trong nước về cả văn lẫn võ, như các ông: Chu văn An, Trương Hán Siêu, nguyễn Trung Ngạn, Trần Nhật Duật, Phạm ngũ Lão và Trần Hưng Đạo v.v..

Sách Việt Nam Sử Lược chép: “Từ đời nhà Lý cũng đã có thi nho sĩ, nhưng chỉ thi Tam Trường mà thôi, đến bây giờ mới có khoa thi Thái Học Sinh, chia ra thứ bậc làm ba giáp để định cao thấp. Đến khoa thi năm Dinh vị này Lê Văn Hưu là người làm sử nước Nam trước hết cả (1), đỗ Bảng Nhãn. Năm ấy có mở khoa thi Tam Giáo: Nho, Thích, Lão. Ai hơn thì đỗ khoa giáp; ai kém, đỗ khoa ất. Xem như thế thì sự học vấn đời Trần cũng rộng: Nho, Thích, Lão cũng trọng cả. Nhưng không rõ cách học hành và phép thi cử bấy giờ ra thế nào, bởi vì chỗ này sử chỉ nói lược qua mà thôi” (Sđd, trang 124)

(1) Theo bộ Đại Việt Sử Ký của triều Lê, thì hình như dưới triều Lý Nhân Tông, ông Đỗ Thiện có soạn một cuốn Sử Ký, mà sau này ông Lê văn Hưu căn cứ vào đó để viết bộ Đại Việt Sử Ký (30 quyển). Cả hai bộ nói trên, nay không còn nữa.

[91] bản văn trên đây chúng tôi có tham khảo bản dịch của ngô Tất Tố, xin xem nguyên tác chữ Hán trong sách Văn Học Đời Trần)

[92] Trong sách VNPGSL, thiền sư Mật Thể đã đưa ra lời bình chú:

Lời cước chú ấy có vẻ huyền hoặc lắm. Vả lại Thái Tông bấy giờ mới có 14 tuổi, việc triều chính đều ở tay Thủ Độ cả, vậy có thể nói đó là sự hanh động của Trần Thủ Độ. Nhưng làm thế để làm gì? Hoặc giả là một “cách” làm chính trị chi đó mà ta chưa rõ chăng? Vì Trần Thủ Độ là một tay xảo quyệt trong nghề chính trị; có lẽ nào triều chính thật tâm truyền bá Đạo Phật hoặc vua nhớ ơn Phật (?)

hoặc giả vì thái sư Trần Thủ Độ thường làm những việc trái đạo lý, như bức tử vua Lý Huệ Tông. Mà trong triều bấy giờ vẫn còn các vị tăng thống, pháp sư, bên ngoài thiên hạ còn sùng tín Đạo Phật, nên Thủ Độ làm ra thế để che mắt thiên hạ chăng?

Nếu đúng như lời ấy, thì do đó ta có thể tin rằng cuối đời Lý, Đạo Phật tuy không phát triển mạnh, nhưng đến đầu đời nhà Trần vẫn còn quyền thế, dân gian còn tin theo mạnh mẽ”. (Sđd, trang 146)

[93]  Chúng ta cần biết thêm tâm sự của vua ghi trong bài tựa sách Thiền Tông Chỉ Nam: “… Từ khi trẫm lên ngôi báu, một mình đang độ trẻ thơ, trẫm những sớm chiều lo sợ, không có lúc nào rỗi. Trẫm thường tự nhũ: Ở trên đã không còn cha mẹ để nương nhờ, thì ở dưới không đủ khiến cho dân đen thỏa lòng mong mỏi. Làm thế nào?

Rồi Trẩm lại nghĩ: âu là lui ở núi rừng, rộng tìm Phật giáo, để hiểu rõ về sự Sống Chết và để báo đáp công đức cù lao, như vậy há chẳng hay ư ?”

[94] (tức ba châu: Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính, nay là địa hạt tỉnh Quảng Bình, quảng Trị.

[95] … (Vua Dụ Tông (1341-1369 có làm bài thơ so sánh vua Trần Thái Tông nước Đại Việt với vua Đường Thái Tông nước Trung Hoa:

“Đường Việt khai cơ lưỡng Thái Tông

Bỉ xưng Tring Quán, ngã Nguyên Phong

Kiến Thành tru tử, an Sinh tại

Miếu hiệu tuy đồng đức bất đồng”.

Tạm dịch:

Đường – Việt hai vua: hiệu Thái Tông

Người xưng Trinh Quán, kẻ nguyên Phong

Kiến Thành bức tử, an Sinh sống

Miếu hiệu tuy đồng đức chẳng đồng.

[96]  (Ngô Thời Sỹ ghi trong Việt Sử Tiêu Án: “Sài Thung kiêu ngạo, vô lễ, khi đến điện Tập Hiền, vua sai Quang Khải tiếp kiến, Thung vẫn thản nhiên nằm, không thèm đáp lễ. Quốc Tuấn lúc ấy đã cắt tóc, mặc áo vải, giả làm vị hòa thượng người Tàu, đến nơi xem nó làm trò gì, Thung liền đứng dậy vái chào và mời ngồi, đối diện uống trà, khi ra về Thung đưa tiễn ra tận cửa” (Sđd)

[97] Hoài Nam hầu Trần Quốc Toản, lúc ấy mới 15 thuổi, cũng tới dự hội, vì chưa đến tuổi trưởng thành, bị quân lính cản lại, cậu bé uất ức (đến nỗi) quả cam cầm trong tay bóp bẹp lúc nào không biết.

Khi trở về quê hương ở Nam Định, người thiếu niên anh hùng Trần Quốc Toản tự đứng ra chiêu mộ nghĩa quân, mua sắm khí giới, rồi tự tay viết trên lá cờ sáu chữ “phá cường địch, báo hoàng ân” (phá giặc mạnh, trả ơn vua). Đoàn quân do cậu chỉ huy lên đường thẳng tới chiến trận, luôn luôn xông ra trước đánh giặc làm cho chúng phải khiếp sợ. Cậu cầm quân đánh trận nào cũng thắng.

[98] Dự Nhương: nuốt than để báo thù cho chủ;

[99] Thân Khoát: Người đời Xuân Thu, một viên quan giữ ao cá của Tề Trang Công. Khi Trang Công bị Thôi Trữ giết, Thân Khoát chết theo.

[100]  Kính Đức: Tức uất Trì Cung đời Đường, đã đánh tháo vòng vây Vương Thế Sung, lấy mình che đỡ, hộ vệ cho vua Đường Thái Tông thoát nạn.

[101]  Cảo Khanh: Tức Nhan Cảo Khanh. Khi An Lộc Sơn khởi loạn đánh Đường Minh Hoàng. Cảo Khanh mắng Lộc Sơn, bị giặc cắt lưỡi, mà vẫn không sợ.

[102] Vương Công Kiên: Tướng của nhà Tống (960-1279)

[103] Điếu Ngự: tên một trái núi rất hiểm ở Tứ Xuyên. Đời Tống, Dư Giới có đắp thành ở đó. Khi Kiên và Lập đóng giữ, Mông Kha (tướng Mông Cổ) kéo quân đến đánh không được.

[104] Mông Kha:anh của Hốt Tất Liệt, tức vua Hiến Tông nhà Nguyên.

[105] Cốt Đãi Ngột Lang: một tướng giỏi của Mông Cổ, đã từng đem quân đi đánh lấy nước Nam Chiếu là một nước trước kia ở vào khoảng giữa hai tỉnh Tứ Xuyên và Vân nam, đóng đô ở Đại Lý (Vân Nam)

[106] Hốt Tất Liệt:  tên vua Thế Tổ nhà Nguyên.

[107] Vân Nam Vương: tức là Thoát Hoan, con thứ 9 của Hốt Tất Liệt, được phong để quản trị đất Vân Nam.

[108] Gói trong da ngựa: Lấy ý câu nói của Mã Viện đời Hán: làm trai phải đánh đông dẹp bắc, dầu chết ở chiến trường, lấy da ngựa bọc thây cũng đành lòng.

[109] Nghe Nhạc Thái Thường: Nhạc Thái Thường đời Trần chỉ dùng trong những dịp lễ tiết lớn của quốc gia, lúc ấy phải dùng để tiếp sứ thần của giặc. Hưng Đạo Đại Vương lấy điều ấy làm điều nhục lớn.

[110] Đặc mồi củi:  theo nghĩa câu ở Hán Thư, đại ý: ôm mồi lửa mà đặt dưới đống củi, rồi nằm lên trên, lửa chưa kịp cháy vẫn cho là yên.

[111] Bàng Mông, Hậu Nghệ: Hai nhân vật thần thoại Trung Hoa, rất vũ dũng, bắn cung giỏi.

[112] Cảo Nhai: nơi ngự của các vua “chư hầu” khi vào chầu vua nhà Hán ở Trường An (Trung Hoa)

[113] Bốn chữ: “Bình lỗ chi hậu”  trong nguyên văn, những dịch giả đời sau mỗi người dịch mỗi khác: Trần Trọng Kim dịch: Sau trận Bình Lỗ… và Dương Quảng Hàm chú thích: Bình Lỗ là tên thành ở tỉnh Thái Nguyên, Lý Thường Kiệt phá quân Tống ở đấy. Ngô Tất Tố dịch: sau khi dẹp yên quân giặc… Về tên Bình Lỗ, thì mãi đến sử đời Trần mới thất nhắc đến: như vậy, có lẽ Bình Lỗ ngày xưa tức là Phù Lỗ ngày nay chăng? (hiện thuộc huyện Kim Anh, tỉnh Vĩnh Phú). Sách Thiền Uyển Tập Anh Ngữ Lục (truyện đại sư Khuông Việt) chép rằng đền Sóc Thiên Vương ở núi Vệ Linh, thuộc Bình Lỗ thị. Núi Vệ Linh nay là Sóc Sơn ở huyện Kim Anh. Như vậy càng rõ Bình Lỗ xưa ở huyện  Kim Anh (theo Dư Địa Chí của nguyễn Trãi – Phan Duy Tiếp dịch. Chúng tôi ghi những ý kiến đó vào đây để độc giả tham khảo.

[114] Bài Hịch: trên đây, chúng tôi đối chiếu bản chữ Hán với các bản dịch của Trần Trọng Kim, Ngô Tất Tố và Đinh Gia Khánh để sửa lại cho sát nguyên văn. Phần chú thích trích dẫn theo sách Hợp Tuyển Thơ Văn Việt Nam, thế kỷ X – XVII.

[115] Hội Nghị Diên Hồng, chúng tôi nghĩ: với tinh thần Từ Bi Trí Tuệ Bình Đẳng Giảo Thoát và Tự Chủ do vua Trần Nhân Tông, nhà lãnh đạo nước Đại Việt – sau trở thành vị tổ khai sáng dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử – quả đã lĩnh hội được tinh chỉ giáo lý Phật một cách quán đạt, và đem áp dụng (thực hành) trong việc Bảo Quốc An Dân, luôn luôn lấy “ý dân làm trọng”… Đó là một điều hiếm thấy ở thế kỷ XIII.

Ta nên nhớ rằng: giữa lúc cả thế giới đang chìm ngập trong tư trào của thời đại quân chủ: vua là trên hết cả, vua thay trời để trị dân… mà riêng ở góc trời Nam, đã có một vị vua đề xướng thuyết:”Dĩ thiên hạ chi dục vi dục” (lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình…) Chỉ có những người thấm nhuần giáo lý Từ Bi Trí Tuệ Bình Đẳng Giải Thoát và Tự Chủ của Đạo Phật như vua Nhân Tông mới có thể thể hiện ra bằng ý nghĩ, lời nói và hành động thực tiễn: Đó là việc đề cao tinh thần tự chủ của con người một cách toàn diện vậy.

[116] Sử Ghi: Vua Nhân Tông nghe tin quân ta thua trận ở Vạn Kiếp thì lòng buồn rười rượi, liền xuống thuyền đến Hải Dương, rồi cho cận thần đi triệu Hưng Đạo Đại Vương tới bàn việc và phán rằng:

“Thế giặc lớn như vậy, mà chống với nó thì dân hại, hay là trẫm (hãy) tạm chịu hàng để cứu muôn dân”.

-“Bệ hạ nói câu ấy là lời nhân đức, nhưng còn tông miếu, xã tắc thì sao? Nếu bệ hạ hàng, thì trước hãy chém đầu hạ thần, rồi sau sẽ hàng!” –Hưng Đạo Đại Vương tâu – Vua nghe lời nói “trung liệt” ấy, lấy làm yên lòng.

Việt Sử Tiêu Án:  “… Quan quân đóng ở Vạn Kiếp. Vua ngự thuyền đến Hải Dương, vừa lúc Trần Quốc Tuấn điều động các lộ đến hội, kén người khỏe mạnh làm quan tiên phong. Quân thế lừng lẫy thêm, vua cho câu thơ treo ở khoang thuyền: “Cối kề cựu sự quân tu ký, Hoan, Diễn do tồn thập vạn binh”. Các vị vương là Nghiễn,Uất (hay Uy), Toản, đều đốc các quân đến hội, dưới sự chỉ huy của Trần Quốc Tuấn”.

Hai câu thơ trên có nghĩa là: ông nên nhớ trận Cối Kê xưa, vua Việt Câu Tiễn bị quân Ngô đánh thua, bắt đem về giam ở Ngô. Ở Thanh và Nghệ còn có 10 vạn quân:

(Cối Kê việc cũ ông nên nhớ,

Hoan, Diễn còn kia chục vạn quân).

– Theo bản dịch của Hội Việt Nam nghiên Cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu –

[117] Tông Liêm, Nguyên Sử, dẫn theo LSVN, tập 1.

[118] Trần Bình Trọng là một trong những tướng tài ba của nước ta, Thoát Hoan có ý dụ hàng, hắn nói với Trần Bình Trọng: “Có muốn làm vương đất Bắc không?” ông quát to mắng vào mặt chúng. “Ta thà làm quỉ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc. Ta đã bị bắt thì chỉ có một chết mà thôi”. Thật là câu nói của bậc anh hùng “phú quí bất năng dâm.. uy vũ bất năng khuất!” Dù bị chết, nhưng chí vẫn hiên ngang, ông đã tỏ cho địch biết giống nòi Việt kiêu hùng, thà chết vinh chứ không chịu sống nhục.

[119] Tháng 12 năm 1282, Hốt Tất Liệt sai Toa Đô đem 10 vạn quân vượt biển qua đánh Chiêm Thành nhưng thất bại Toa Đô cho quân kéo tới đóng ở bờ biển Qui Nhơn để chờ viện binh, nhưng… sự chờ đợi kéo dài hàng năm, mãi đến tháng tư năm 1284, hai vạn quân tiếp viện trên đường tới Qui Nhơn, gặp bão lớn đánh đắm tàu, nên người và lương thực bị cuốn trôi theo dòng nước cả! Được tin chẳng lành ấy. Toa Đô tự thấy không đủ sức tiêu diệt lực lượng kháng chiến của nhân dân Chiêm Thành, đành nuốt hận, cho quân rút theo hướng bắc, tới đóng chốt ở Quảng Trị, Thừa Thiên, để chờ khi đại quân Nguyên từ phía Bắc tràn sang đánh Đại Việt, thì đạo quân của hắn (sẽ) từ miền Nam đánh thốc ra mạn Nghệ An, Thanh Hóa, nhằm cắt đứt mọi liên lạc, tiếp vận giữa hai miền nam bắc, khống chế toàn bộ lực lượng kháng chiến của dân tộc Việt, hòng tạo một sức ép, buộc triều đình ta phải đầu hàng…

[120] Sử Thần bàn rằng: Mỗi lần có tin báo quân Nguyên sang cướp, thì lập tức vua thân hành ra ngoài trôg coi quân, khi đi đông, đi tây, không đi nhất định đường nào, khi ở trên bộ, khi ở dưới thuyền, không đóng nhất định ở đâu, đó không phải là nhát, là vì vua ở bên ngoài, thì dễ hiệu triệu thiên hạ, cổ lệ lòng hăng hái của quân sĩ, chư tướng thì tiện việc tâu xin mệnh lệnh, tam quân thì vui lòng xông phá, đinh tráng đều là binh của nước…; khi tiến quân thì nhanh như chớp nhoáng, khi lui về thì như rồng rắn ẩn thân, giặc không biết đâu mà lường đạc được, nếu chỉ nấp giữ ở trong thành, thì địch coi đó là sào huyệt, chúng sẽ chặn đường không cho vận lương đến, và giữ viện binh không vào được, đến khi lương hết, lực cùng, chả nguy lắm sao. Có tin giặc đến thì vua lập tức ra ngoài, liệu sức giặc và tính cách đến, đó là “kỳ kiến dụng kỳ” của nhà Trần (VSTA tr 201).

[121] Lịch sử Việt Nam, tập 1, nhận định: “Trần Quốc Tuấn đã tổ chức một cuộc hành quân đầy mưu trí để đánh lạc hướng kẻ thù, thoát khỏi thế bị bao vây. Từ Thiên Trường, một bộ phận ta rút về các lộ vùng đông bắc (Hải Phòng, Quảng Ninh) để dữ địch đuổi theo, rồi chờ khi đạo quân Toa Đô đã vượt qua Thanh Hóa tiến ra Trường Yên, thì quay vào chiếm lấy Thanh hóa làm căn cứ. Toa Đô vừa vất vả tiến ra Trường Yên lại được lệnh đánh vào Thanh Hóa. Đến đây, âm mưu của địch đinh bao vây tiêu diệt quân chủ lực và bộ máy đầu não kháng chiến của ta, bị thất bại về cơ bản” (Sđd, trang 203)

[122] tác giả Việt Nam Sử Lược viết: “Bấy giờ quân Nguyên to thế lắm, đóng khắp các nơi từ vùng Bắc Ninh, Thăng Long, Thiên Trường, chỗ nào cũng có quân đóng. Ở vùng Nghệ An lại có Toa Đô, Đường ngột Ngải, Ô Mã Nhi đánh ra. Nhân Tông kinh hãi, Thượng Hoàng đêm ngày lo sợ Nhà nước ngất ngưởng như trứng chồng. Bọn hoàng tộc Trần Ích tắc, Trần Tù Viên đều ra hàng Thoát Hoan cả. Chỉ có Hưng Đạo Đại Vương phụng xa giá đi, trèo non vượt bể, trải gió dầm mưa, thế lực tuy cùng, nhưng vẫn bền vững một lòng, tìm kế đánh giặc, lo liệu việc nước không rối sợ lúc nào. Thật là một người có tài đại tướng, có thể cứu dân giúp nước, tiếng để muôn đời (Sđd, tr 145.

[123] Thiên Mạc là một khúc sông Hồng ở vào địa hạt huyện Đông Anh, tỉnh Hưng Yên.

[124] Có sách chép:

Thái bình nghi trí lực

Vạn cổ cựu giang sơn.

[125] Thám hoa Vũ Phạm Hàm có đôi liễn trước đền Kiếp Bạch thơ Hưng Đạo Đại Vương.

[126] Lịch Sử Việt Nam, tập 1: “Bạch Đằng là một sông lớn do sông Đá Bạc, sông Giá và nhiều nhánh sông khác đổ vào. Dòng sông rộng mênh mông, bên phải có dãy núi đá vôi Tràng Kênh ăn sát bờ, bên trái rừng cây um tùm che lấp bờ bê.

Theo kế hoạch Trần Quốc Tuấn, quân dân ta đẵn gỗ lim, gỗ táu trên rừng về, đẽo nhọn cắm xuống sông tạo thành một bãi chướng ngại vật lớn. Chiến thuật của Ngô Quyền từ thuở phá quân Nam Hán lại một lần nữa được vận dụng sáng tạo trong cuộc kháng chiến chống Nguyên. Ghềnh Cốc là một dải đá ngầm chảy ngang qua sông Bạch Đằng phía dưới của sông Chanh, có thể được lợi dụng như một chướng ngại vật tự nhiên để phối hợp với bãi cọc, ngăn chặn chiến thuyền địch khi nước triều xuống. Thủy quân của ta mai phục sẵn trong các nhánh sông, vũng sông, trừ sông Đá Bạc được mở rộng cửa cho quân thù tiến vào đất chết. Bộ binh tận dụng địa hình dấu quân trong núi đá Tràng Kênh và rừng rậm bên tả ngạn. Đại quân do vua trần thống lĩnh cũng sẵn sàng tiếp ứng cho trận huyết chiến chiến lược này.

Ngày 8 tháng 4 năm 1288, một đội thuyền của địch đi trước dò đường tiến theo sông Giá. Đến Trúc Động (Thụy Nguyên, Hải Phòng), đội thuyền này bị quân ta chặn đánh phải rút lui. Nhiệm vụ của trận Trúc Động là bịt đường sông Giá để bảo đảm bí mật cho trận địa mai phục và buộc toàn bộ binh thuyền của địch phải hành quân theo sông Đá Bạc vào sông Bạch Đằng nghĩa là phải dẫn thân vào trận địa do ta chọn sẵn”. (Sđd 210, 211).

“vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí

Lục Dầu vô thủy bất thu thanh”.

[127] Gần đây phát giác được một bãi cọc ở gần cửa sông Chanh và một số cọc bên tả ngạn sông Bạch Đằng phía dưới sông Chanh. Một số nhà nghiên cưú cho đó là di tích của bãi cọc trong trận Bạch Đằng năm 1288. Niên đại của bãi cọc đó đang được nghiên cứu để xác minh thêm (LSVN, t I, ct).

Theo đại Việt Sử Ký Toàn Thư, phần phụ chú: “Sông Bạch Đằng từ sông Lục Đầu, tỉnh Bắc Ninh chia dòng chảy vào Hải Dương. Một ngành theo sông Mỹ, một ngành theo sông Châu Cốc, cùng rót vào xã “Đoan Lễ là sông bạch Đằng. Phía Nam là đất huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên. Chuyển sang năm chảy 29 dặm ra cửa biển Nam Triều”.

Địa Lý Chí của Nguyễn Trãi chép: “Sông Bạch Đằng biệt hiệu là sông Vân Cừ, rộng hơn hai dặm. Muôn non đứng sắp; các nước giao dòng! Sóng nổi lên trời! Cây tre rợp bãi! Thật là nơi hiểm yếu của đường biển. Xưa, Ngô Vương Quyền đánh bại Hoằng Thao! Trần Hưng Đạo đánh bại quân Nguyên ở đây” (bản dịch của ngượng Tống)

Trong bài phú Bạch Đằng Giang, TRƯƠNG HÁN SIÊU, một bậc đại nho, đời Trần Anh Tông, đã cảm tác những vần thơ bất hủ, nói lên niềm tự hào của dân tộc. Bài phú quá dài nên ở đây, chúng tôi chỉ trích ra ít câu khi nhắc tới con sông lịch sử này!

…”Bát ngát sóng kình muôn dặm,

Thướt tha đuôi trĩ một màu.

Nước trời: một sắc; phong cảnh: ba Thu,

Bờ lau san sát, bến lạch đìu hiu.

Sông chìm giáo gãy, gò đầy sương khô,

Buồn vì cảnh thảm, đứng lặng giờ lâu.

Thương nỗi anh hùng đâu vắng tá,

Tiếc thay dấu vết luống còn lưu!

Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng

Nhị Thánh bắt Ô Mã

Cũng là bãi đất xưa, thuở trước

Ngô chúa phá Hoằng Thao…

Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng,

Bởi đại vương coi thế giặc nhàn.

Tiếng thơm còn mãi;

Bia miệng không mòn.

Khách chơi sông chừ ủ mặt,

Người hoài cổ chừ lệ chau.

Rồi vừa đi, vừa ca rằng:

Sông Đằng một giải dài ghê,

Sông Hồng cuồn cuộn tuôn về bể Đông

Những người bất nghĩa tiêu vong,

Nghìn xưa chỉ có anh hùng lưu danh”.

(Bản dịch Bùi Văn nguyên, trích trong Hợp Tuyển Thơ Văn Việt Nam, thế kỷ X-XVII)

Và dưới đây là bài thơ trác tuyệt của vua Trần Minh Tông viết về sông Bạch Đằng. Nguyên bản chữ Hán:

Bạch Đằng Giang.

Vãn vân kiếm kích bích toàn ngoan,

Hải thần thôn triều quyển tuyết lan.

Xuyến địa họa điền xuân vũ tế,

Hám thiên tùng lại vãn sương hàn.

Sơn hà kim cổ song khai nhãn,

Hồ Việt doanh thâu nhất ỷ lan.

Giang thủy đình hàm tà nhật ảnh,

Thác nghi chiến huyết vị tằng can.

Giải nghĩa:

Núi biếc cao vút, tua tủa như gươm giáo kéo lấy tầng mây,

Hải thần (1) nuốt thủy triều cuộn làn sóng bạc.

Hoa vàng điểm tô mặt đất lúc mưa xuân vừa tạnh,

Tiếng sáo thông rung chuyển trời khi sương chiều lạnh lẽo,

Núi sông này xưa nay đã hai lần mở mắt(2),

Cuộc hơn thua giữa Hồ và Việt thoáng qua như một lúc dựa vào lan can.

Nước sông chan chứ rọi bóng mặt trời buổi chiều đỏ ối,

Còn ngỡ là máu chiến trường thuở trước chưa từng khô.

Dịch thơ:

Chạm mây gươm giáo, xanh von vót,

Sóng tuyết khi đầy lại lúc vơi,

Mưa tạnh hoa phô vàng mặt đất,

Sương lùa thông réo tiếng vang trời.

Non sông kim cổ hai lần dậy,

Hồ Việt hơn thua một thoáng thôi.

Chan chứa dòng sông ngầu bóng xế,

Ngỡ là máu giặc hãy còn tươi.

Đào Phương Bình – Nam Trân

(TVLT, tập II, trang 798)

(1) HẢI THẦN: một hiện tượng quang học thường thấy ở các sa mạc hay ở bể do sự phản quang qua các tầng không khí dầy, mỏng khác nhau sinh ra. Nhưng người xưa lại cho là ở bể có một loài giao long lớn gọi là THẦN thường nhả khí làm thành các lâu đài thành quách.

(2) Câu này ý nói sông Bạch Đằng đã chứng kiến hai chiến công oanh liệt: Ngô Quyền phá quân Nam Hán năm 939 và Trần Quốc Tuấn phá quân Nguyên năm 1288 (Theo TVLT, tập II, trang 798).

[128] Ghi chú: Nhà Trần đã ba lần chống quân ngoại xâm vào những năm:

– 1258, dưới thời vua Thái Tông (đánh quân Mông Cổ).

– 1285 và 1288, dưới thời vua Nhân Tông (đánh dẹp quân Nguyên).

Hai câu thơ trên do vua làm chỉ cho Thời Đại Nhân Tông đã hai lần đánh dẹp giặc. Cả hai al62n quân nguyên đều bị thua. Lần thứ nah61t, thua ở vạn Kiếp; lần thứ hai ở Bạch Đằng Giang.

[129] Việt Sử Tiêu Aùn đã bình phẩm:

“Vua Thánh Tông đốt tờ hàng biểu, cũng như vua quang Vũ, đốt văn thư, độ lượng đế vương rộng lớn đến thế”.

[130] Ngay từ khi còn nhỏ, vua đã mến mộ đạo Phật, có chí xuất gia: năm 15 tuổi, một lúc nửa đêm, vua lẻn ra ngoài thành, đi về núi Yên Tử, đến chùa Tháp (ở núi Động Cứu) thì trời hừng sáng, vua vào nghỉ trong tháp cho đỡ mệt. Vị tăng trụ trì chùa ấy thấy “cậu bé” tướng mạo kỳ tú khác người thường, thì khởi lòng kính mến, sai chú tiểu sửa soạn cơm chay thết đãi. Thượng hoàng Thánh Tông hay tin, liền sai các quan đi tìm, vua miễn cưỡng phải trở về cung. Có lần thượng hoàng khóc nói: “Ta đã già, trông cậy vào một mình ngươi, nếu ngươi như thế thì làm sao nối được thịnh nghiệp của tổ tông”. Vua cũng khóc…

HT.Thích Đức Nhuận